Thân phận KURD

Nguyễn Trần Ai

1. CHỦ THUYếT BUSH

Trong bài Dầu Khí Chính Trị Học! (NgD 151) tôi đã mạo muội đưa ra một ý kiến, TT Bush có vẻ rất tự tin hay tin vào một sứ mạng thiêng liêng nào đó mà ông có nhiệm vụ thi hành một cách cuồng tín.

Không ngờ ý kiến ấy lại được chính quyền Bush xác nhận trong một tài liệu gọi là Chủ Thuyết Bush (the Bush Doctrine) do Tòa Bạch ốc phổ biến, với phần giới thiệu như sau:

"Ðáp ứng những đe dọa của khủng bố chủ nghĩa quốc tế, chính quyền của TT George W. Bush đã phát triển một chính sách an ninh quốc gia mới để hướng dẫn giới quân sự HK, mệnh danh là Chủ Thuyết Bush, chính sách được phác ra trong một tài liệu tháng 9.2002 gọi là Chiến lược An ninh Quốc gia của HK. Trong đó, HK lần đầu tiên giữ lại quyền tùy ý phát động cuộc chiến tranh phủ đầu và mở ra khả năng cho người Mỹ dùng các khí giới hạch tâm chống lại những quốc gia không có hạch tâm."

Không biết sứ mạng trọng đại ấy là do TT Bush tự biên tự diễn hay được thiên khải nhưng dù sao cũng vẫn được HK hoan nghênh (The US welcomes our responsibility to lead in this great mission [sic]).

Sứ mạng ấy là kiến tạo một thế giới hòa bình, ổn định, dân chủ và hạnh phúc, tóm lại là một thế giới sướng như Mỹ và đó là một mệnh lệnh luân lý:

Chí nguyện của chúng ta trên con đường đến tiến bộ thật sáng tỏ: tự do chính trị và kinh tế, tương quan hòa bình với các nước khác, và tôn trọng nhân phẩm...

Một thế giới trong đó có người sống thoải mái và sung túc, trong khi một nửa nhân loại sống với không đầy $2 một ngày thì không công bằng, cũng chẳng ổn cố. Gom tất cả các người nghèo trên thế giới vào một cái vòng nới rộng mãi ra của phát triển -và cơ hội- là một mệnh lệnh luân lý và một trong những ưu tiên hàng đầu của chính sách quốc tế HK (a moral imperative and one of the top priorities of U.S. international policy)...

Chúng ta sẽ không bao giờ quên rằng rốt ráo chúng ta chiến đấu cho các giá trị dân chủ và cách sống của chúng ta (our democratic values and way of life).

Ðây cũng là thời cơ cho Mỹ. Chúng ta sẽ công tác để chuyển dịch các ảnh hưởng này thành những thập niên hòa bình, thịnh vượng, và tự do. Chiến lược an ninh quốc gia HK sẽ căn cứ trên một chủ nghĩa toàn cầu hóa rõ rệt là [có tính cách] Mỹ, phản ảnh sự hợp nhất những giá trị của chúng ta và những quyền lợi quốc gia của chúng ta. Mục tiêu của chiến lược ấy là giúp làm cho thế giới không chỉ những an toàn hơn mà còn tốt hơn.

Trong Ðệ nhị Thế chiến, chúng ta chiến đấu để làm cho thế giới an toàn hơn, rồi công tác để tái thiết nó. Ngày nay chúng ta lâm chiến để giữ cho thế giới khỏi nạn khủng bố, chúng ta cũng phải công tác để làm cho thế giới thành một nơi tốt hơn cho mọi công dân [thế giới].

Sống với không đầy $2 một ngày là ám chỉ dân Iraq đấy.

Mọi thành phần trong cái thế giới mới kiểu Mỹ này bắt buộc phải sướng, dù có muốn hay không:

"HK phải bảo vệ tự do và công lý vì những nguyên tắc này là phải và đúng đối với tất cả dân khắp mọi nơi. Không quốc gia nào sở hữu những khát vọng ấy, và không quốc gia nào được miễn trừ có chúng... Mỹ phải kiên cố lập trường đối với những sở cầu về nhân cách..."

HK có khả năng thực hiện sứ mạng này không? Dĩ nhiên là có:

"Ngày nay, HK đang hưởng được một vị thế của sức mạnh quân sự vô song và ảnh hưởng kinh tế và chính trị vĩ đại... Ngày nay, các đại cường quốc trên thế giới thấy chúng ta cùng phe với họ Ở hợp nhất trong các hiểm họa chung của bạo hành khủng bố và hỗn loạn. HK sẽ xây dựng trên những lợi ích chung ấy để phát huy an ninh toàn cầu..."

Bài viết dài mấy chục trang, tôi chỉ trích dịch mấy đoạn liên quan đến đề tài định thảo luận, quý vị có thể đọc toàn văn trên website của toà Bạch ốc http://w.w.w.whitehouse.gov/nsc/nssall.html.

Ðọc bài này tôi nửa mừng nửa lo. Mừng vì đã có một minh chúa ra cứu đời. Lo vì vị chúa ấy đôi lúc vẫn chưa minh, đặc biệt là trong trường hợp của dân Kurd thì chúa con cũng vẫn vô minh như chúa cha (xin xem lại bài Ðế Quốc ác Ôn của tôi trên NgD 144, đoạn đầu trang 18).

Joe Klein bình luận:

"Tuần trước George W. Bush tự xưng là Tổng thống có chính sách đối ngoại lý tưởng một cách tưng bừng (exuberantly) nhất kể từ Woodrow Wilson. Viễn tượng của Bush về một nền dân chủ hậu-Saddam chợt nở bung ở Trung Ðông không hề có tiền lệ trong lịch sử... Con người siêu lý tưởng (arch-idealist) Woodrow Wilson bảo rằng việc công nhận ngoại giao phải tùy thuộc vào sự hiện hữu của một chính phủ công bằng... dựa trên sự đồng thuận của các người bị trị (Why not kill dictators with kindness? Time, March 10. 2003).

George W. Bush dường như có số làm một Tổng thống ngoạn mục theo một kiểu nào đó. Ông phối hợp lý tưởng chủ nghĩa của Woodrow Wilson với bộ tịch phách lối (bravado) của Theodore Roosevelt, nhưng những cái này không phải luôn luôn là những đức tính tốt nhất của các vị ấy. Và ông thiếu sự nghiêm khắc, lòng yêu học hỏi, của bất cứ ai trong hai người (The Poker Player in Chief Time, March 17. 2003)."

Woodrow Thomas Wilson (1856-1924), tổng thống thứ 28 (1913-1921) rất nhiệt tình với quyền dân tộc tự quyết nhưng nhiệt tình ấy không bao giờ lan tới dân Kurd. TT thứ 41 tức cụ Bush bố và TT thứ 43, tức ông Bush con cũng rất lãnh đạm đối với cái mạt vận của dân Kurd sau khi đã lợi dụng thế địa lý chiến lược (geostrategic) của họ.

2. THế Ðịa LÝ CHIếN LƯợC CỦA DÂN KURD

Cách đây gần bảy thế kỷ, không kể Ả Rập Saudi, Trung Ðông đại khái chỉ gồm có hai đế quốc hùng mạnh là đế quốc Ottoman, hậu thân của đế quốc rộng lớn hơn là đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, và đế quốc Ba Tư.

Ông bà sử gia Will và Ariel Durant nhận định:

"Vào tk XVIII Ki Tô giáo bị kẹt ở giữa Voltaire và Mohammed giữa Giác ngộ và Hồi giáo. Tuy rằng thế giới Hồi đã mất uy lực quân sự kể từ khi Sobieski đẩy người Thổ ra khỏi Vienna năm 1683, nó vẫn thống trị Morocco, Algeria, Tunisia, Libya, Ai Cập, Ả Rập, Palestine, Syria, Tiểu á Tế á, Crimea, Nam Nga, Bessarabia, Moldivia, Wallachia (Lỗ Mã Ni), Bulgaria, Serbia (Nam Tư), Montenegro, Bosnia, Dalmatia, Hy Lạp, Crete, các đảo Aegean, và Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả, trừ có Ba Tư, là thành phần của đế quốc Thổ Ottoman (411)...

Suốt đế quốc Ottoman từ sông Euphrates đến Ðại Tây Dương, các sultan suy đồi trị vì (Rousseau and Revolution, 414)."

Ðế quốc Ottoman được thành lập bởi Othman I (hay Osman, chết năm 1326) và sụp đổ ngày 17.11.1922 khi vua (sultan) Mohammed VI bỏ trốn. Biên cương của đế quốc co dãn tùy thời thịnh hay suy, có lúc bao gồm cả Tiểu á Tế á và lan cả ra ngoài biển Caspian; các nước Balkan, Hy Lạp, đảo Cyprus; những phần của Hung, áo, miền nam nước Nga; Syria, Iraq, Palestine, Ai Cập; bắc Phi và những phần của Ả Rập.

Hai năm sau trận đệ nhất thế chiến kết thúc, người Anh và người Pháp giúp người Ả Rập đuổi người Thổ ra khỏi những vùng họ đã chiếm đóng từ sáu thế kỷ trước, rồi chia nhau: Pháp giữ Syria, Anh giữ Iraq, Kuwait, Palestine và Jordan.

Iraq là tên người Anh đặt cho vùng đất trước kia thuộc Lưỡng Hà (Mesopotamia: hai con sông Tigris và Euphrates) và Kuwait cũng được họ lập ra cùng thời kỳ ấy. Cả hai nước tân lập này có biên thùy rất mơ hồ với đế quốc Ả Rập của nhà Saud ở phía nam. Người Anh đặt một người con của Sharif ở Mecca là Faisal lên ngôi vua Iraq, và một người con khác là Hussein lên ngôi vua Jordan, nhưng nắm quyền cai trị và khai thác dầu mỏ ở Iraq trong gần 40 năm, đến năm 1932 mới trả độc lập làm cảnh cho nước này và tiếp tục điều khiển nó. Tháng 7.1958 một nhóm sĩ quan lật đổ chế độ quân chủ để lập ra nền cộng hòa, tiếp theo là đảo chánh và hỗn loạn triền miên cho đến tháng 7.1968 đảng BaỖth lên nắm quyền và củng cố quyền hành bằng khủng bố dã man với trưởng ban nội an là Saddam Hussein. Năm trước, vì cuộc chiến Ả Rập-Do Thái, Iraq đã đoạn giao với HK, Liên Xô bèn nhẩy vào hăng hái giúp Iraq vũ trang, tiện thể thủ lợi về nguồn dầu mỏ đứng vào hàng thứ nhì thế giới của nước này.

Tỉnh Mosul ở miền bắc (do Ataturk nhường cho Iraq, tức là cho Anh hồi đó) là nơi có nhiều dầu nhất nước lại là nơi đông dân Kurd. Saddam Hussein được phái đến đó để thương lượng với Mullah Barzani, thủ lãnh của họ, và một thỏa ước được hai bên ký kết năm 1970 trao quyền tự trị cho dân Kurd. Nhân dịp này Saddam định ám sát Barzani nhưng hụt vì có một cận vệ nhẩy vào chết thay. Vì Iraq bồ với Liên Sô, năm 1974, ngoại trưởng Henry Kissinger (lại hắn!) bày mưu cho Vua (shah) Mohammed Reza Pahlavi của Iran mà các chính khách Mỹ gọi là thằng đểu nhưng là thằng đểu của chúng ta (HeỖs a bastard, but heỖs our bastard) Ở cung cấp vũ khí và tiền bạc cho 90,000 quân du kích Kurd của Barzani nổi loạn. 3/4 quân số và 1/4 quân thiết giáp của Iraq được phái đến đàn áp. 30,000 quân Iraq tử thương. Ðể tránh một cuộc chiến toàn diện, Iran và Iraq ký Thỏa Ước Algiers năm 1975. Shah trở mặt không ủng hộ người Kurd nữa. Barzani thất thế. Một lãnh tụ Kurd khác là Jalal Talabani công kích Barzani khiến ông này phải lưu vong ra nước ngoài. Người Kurd vì tranh chấp nội bộ yếu thế đi, Iraq không cho họ khai thác mỏ dầu ở Kirkuk trong lãnh thổ của họ nữa. Trong vụ này, Saddam Hussein coi Kissinger như là kẻ chủ mưu cấu kết với Iran áp đặt ảnh hưởng của Anh trong Vịnh Ba Tư để bảo đảm quyền lợi Tây phương, và vì thế tỏ ra thân Liên Sô hơn nữa. Hòa với Iran rồi, Saddam tấn công người Kurd không nương tay. Thế là dân Kurd bị Iran bỏ rơi mặc cho Iraq làm thịt. Ðây không phải là lần đầu cũng chẳng phải là lần chót họ bị các đồng minh phản bội.

3. THÂN PHậN DÂN KURD

Nguồn gốc người Kurd không rõ, chỉ biết họ là một giống người Ấn-Âu pha trộn với những sắc tộc Semetic cư ngụ trên vùng đất núi của những rặng Taurus và Zagros chạy dọc biên giới của Armenia, Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ. Họ có một lịch sử từ tk II trước Công nguyên, theo Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism) và những tôn giáo cổ khác, đến tk VII bị người Hồi giáo xâm lăng bắt họ cải đạo, 3/4 theo giáo phái Sunni. Những sheikh (tộc trưởng) Kurd hay tranh chấp với nhau nhưng họ xung đột nhiều hơn với cả đế quốc Ottoman lẫn đế quốc Ba Tư.

Dân số Kurd ngày nay lên đến 25-35 triệu, 1/4 cư ngụ ở Iran (đế quốc Ba Tư), 3/4 ở Thổ Nhĩ Kỳ (đế quốc Ottoman). Hai đế quốc chống đối nhau trong hai thế kỷ. Dân tộc Kurd chống đối cả hai đế quốc. Trong thập niên 1830, Ba Tư xúi giục người Kurd nổi lên chống lại Ottoman. Vì thế người Kurd bị người Thổ đàn áp không nương tay.

Trong trận đệ nhất thế chiến, Thổ là đồng minh của Ðức. Ðức và Thổ là những nước bại trận. Ðồng Minh muốn hạ nhục Thổ và chia cắt đế quốc Ottoman. Dựa vào chương trình hòa bình thế giới của TT Woodrow Wilson đưa ra vào tháng 1.1918, Hiệp định Sèvres ký tháng 8.1920 công nhận một nước Kurdistan. Ðiều này cũng hợp ý Anh Quốc, đang muốn có một nước làm trái độn giữa những lãnh thổ vừa chiếm được là Iraq và Thổ. Hiệp định Sèvres đặt một chính phủ bù nhìn Thổ ở Istanbul. Thổ mất gần hết đất đai Âu Châu, phải nhượng Tây phần Anatolia cho Hy Lạp, từ bỏ các yêu sách đối với Armenia, chứng kiến việc hình thành một quốc gia Kurd ở miền đông rặng núi Taurus. Vua Thổ Nhĩ Kỳ Mehmet VI đành phải ký, nhưng Thủ tướng Anh Lloyd George có cái dại là giao việc thi hành Hiệp ước cho Hy Lạp. Hy Lạp gây hấn với Thổ trong hai năm, vấp phải thiên tài quân sự Mustapha Kemal tức là Ataturk nên đại bại, gây cho Ðồng Minh cái nhục chưa từng thấy thời hậu chiến, kết thúc bằng Hiệp định Lausanne năm 1923, có những điều khoản như sau: Thrace và một phần Armenia trả lại cho Thổ, Anatolia không còn thuộc quyền Hy Lạp nữa, không chấp nhận quốc gia Kurd.

*

Người Thổ hay nhận là đã lập ra các nền văn minh Tàu, Ấn và Trung Ðông, kể cả Hittite và Sumer. Ðây là một khẳng định vô căn cứ nhưng dân tộc Thổ quả đã có một quá khứ hiển hách. Nhưng rồi quá khứ vàng son ấy tàn lụi, phải đợi một thiên tài mới phục hồi được niềm tự hào dân tộc cho Thổ. Thiên tài ấy là người đã từng tuyên bố Phúc thay cho kẻ nào tự xưng là người Thổ. Thiên tài ấy là Mustapha Kemal.

Kemal đồng hương với A Lịch Sơn đại đế, sanh năm 1881 tại Salonika ở Macedoine thuộc Ottoman (bây giờ là Thessaloniki). Tháng 4.1919, mới 38 tuổi, ông được phái làm Tổng Thanh Tra tại Anatolia. Sáu tháng sau ông triệu tập một Quốc Hội, tuyên bố độc lập, thiên đô về Angora (bây giờ là Ankara), và lập ra một Minh Ước Quốc Gia quy định những nguyên tắc cho Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ thành lập vào tháng 10.1923. Ông là một nhà cải tổ: gạt sang bên quá khứ Ottoman và Hồi giáo, truất phế cả caliph lẫn sultan, giảm dần quyền lực Hồi giáo trong chính quyền, cấm đội khăn Hồi giáo, đổi giờ làm việc theo Tây lịch, thay chữ Ả Rập bằng chữ La Tinh.

Ông tự xưng là ghazi tức là người cầm cờ Hồi giáo và chiến thắng kẻ ngoại đạo, nhưng đó chỉ là chiêu bài để lấy lòng dân và là một thủ đoạn chính trị. Thực ra ông là Atatórk tức là cha đẻ ra quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ tân tiến và hùng cường và ông xứng đáng với danh hiệu này tuy không tránh khỏi vài tật xấu ít người biết như nghiện rượu và đa dâm. Ông mất sớm, năm 1938, mới 57 tuổi, có lẽ vì hai tật xấu ấy. Một tật xấu nữa là tính tàn nhẫn, tráo trở của ông, nhất là đối với dân Kurd.

Khi tranh chấp với người Anh, Atatórk khuyến khích người Kurd theo Thổ chống Anh nhưng từ 1932 lại thẳng tay đàn áp họ: phái người Thổ đến cai trị, cắt đất của họ cho cựu chiến binh Thổ, cấm dùng ngôn ngữ Kurd ở tòa án, trường học và ngay cả ở chợ, đặt tên Thổ cho các làng Kurd, cấm đặt tên Kurd cho trẻ mới sanh, cấm dân ca Kurd, tóm lại là muốn tiêu diệt văn hóa và chủng tộc Kurd và đồng hóa họ. Cho đến 1990, người Kurd bị gọi là người Thổ núi (Mountain Turk). Làm gì mà người Kurd không nổi loạn, rồi lại bị đàn áp. Riêng ở tỉnh Dersim mà Thổ đổi tên là Tunceli, 40,000 người bị quân Thổ giết.

Trong trận đệ nhị thế chiến, Thổ trung lập nhưng Ðức sử dụng các eo biển của Thổ mở đường vào Hắc Hải để tấn công Liên Xô nên sau khi chiến tranh kết thúc, tháng 8.1946 Liên Xô đòi kiểm soát những eo biển này, như thế là định đóng quân trên đất Thổ. Thổ ngả theo HK và Liên Sô phải chùn bước, mở đường cho chủ thuyết ngăn chặn (doctrine of containment) của Truman. Khi Kemal chết, bạn đồng đội là Ismet Inứnó lên thay, năm 1950 cho tổ chức tuyển cử tự do. Ðảng của Atatórk thất cử, Adnan Menderes thắng cử. Năm 1951, HK muốn lập một liên minh để bảo vệ quyền lợi từ Ðông Ðịa Trung Hải đến bán lục địa Ấn Ðộ. Thổ (và Hy Lạp) nhân dịp xin gia nhập khối NATO như là điều kiện hợp tác. HK làm áp lực, NATO phải nhận. Thổ từ đó nhận vũ khí và huấn luyện quân sự của HK và Âu Châu. Chính phủ dân sự tỏ ra bất lực, năm 1960 phe nhà binh đảo chánh, Menderes đổ và bị treo cổ. Tướng Górsel lãnh đạo cuộc đảo chánh được bầu làm Tổng thống. Hai vị tổng thống kế tiếp cùng là nhà binh. Tình hình hỗn độn. Tháng 3.1971, phe nhà binh lại đảo chánh, năm 1974, đương đầu với Hy Lạp, chiếm đảo Cyprus. Ðảo này không bao giờ là đất của Hy Lạp nhưng 4/5 dân số là Hy, phần còn lại là Thổ. Cho đến bây giờ đảo vẫn có hai chánh phủ, một của Tổng thống Tassos Papadopoulos theo Hy Lạp, một của TT Rauf Denktash theo Thổ Nhĩ Kỳ, Tổng Thư Ký LHQ đang cố điều đình để thống nhất. Năm 1960 Anh trả độc lập cho các thuộc địa trong vùng, giao đảo như là một quốc gia độc lập cho Tổng giám mục Makarios III. Năm 1967, một nhóm đại tá Hy Lạp lật đổ nền quân chủ, tấn công người Thổ trên đảo, và tháng 7.1974 âm mưu cuộc đảo chánh lật đổ Makarios. Tân Thủ tướng dân sự Bólent Ecevit được lãnh tụ Necmetin Erbakan của Ðảng Cứu Quốc (nay là Ðảng Hồi giáo Refah) thúc đẩy và các tướng lãnh đồng ý, cho hành quân chiếm đảo. 6,000 dân đảo chết. Ðảo bị chia đôi. Nixon và Kissinger trách cả hai bên. Ford và Kissinger cho phong tỏa việc bán vũ khí cho Thổ từ đầu năm 1975. Thổ không chịu rút quân khỏi Cyprus, lại đóng cửa các căn cứ tình báo HK, các trạm nghe lén hướng về Liên Xô và nói bóng gió muốn rút ra khỏi NATO, trách Âu Mỹ bênh người Ki tô giáo chống lại Hồi giáo nên mới ra nông nỗi.

Thủ tướng Ecevit và Sóleyman Demirel, lãnh tụ đảng Công Lý không bên nào tranh thủ được lòng dân. Cuối thập niên 1970, các tỉnh lớn, nhất là vùng của dân Kurd ở đông nam, hỗn loạn phải thiết quân luật. Mùa xuân 1978, TT Carter xin và tháng 9 được Quốc Hội cho bỏ lệnh phong tỏa. Shah của Iran bỏ ngai vàng tháng 1.1979 khiến HK cần có một đồng minh tin cẩn thay thế, và chỉ có thể giao vai trò này cho Thổ, nhất là sau khi Liên Sô xâm lăng A Phú Hãn. Tháng 3.1980 Thỏa Ước Hợp Tác Quốc Phòng và Kinh Tế (DECA = the Defense and Economic Cooperation Agreement) cho phép HK lập 26 căn cứ quân sự trên đất Thổ và cho phép Thổ được cho không hay mua chịu hay mua trả tiền mặt các trang bị quân sự đặc biệt hữu hiệu của HK và để bắt đầu Thổ cầm đỡ $450 triệu của HK để mua đồ Mỹ!.

Nhưng nội bộ Thổ rất lủng củng. Ecevit và Demirel đã hiềm khích nhau, lại bị lưỡng đầu thọ địch: đảng quốc gia cực đoan do Alparslan Tórkesh lãnh đạo và phe cực tả của Abdullah Ocalan. Năm 1974 Ocalan lập ra Ðảng Lao Công Kurd (PKK = Partiya Karkari Kurdistan), trong khuôn viên Ðại Học Ðường Ankara, động viên nhóm Dev Sol cộng sản và một số phe phái khác. Ngày 5.9.1980 Quốc Hội bỏ phiếu bất tín nhiệm chính sách thân Tây phương của Demirel. Ngày hôm sau Necmetin Erbakan triệu tập cuộc họp tại Konya, hô hào toàn thể người Hồi giáo đoạn giao với Do Thái, giải phóng Jerusalem, phấn đấu chống lại tâm lý Tây phương giả trá đã thống trị Thổ Nhĩ Kỳ. Ðoàn biểu tình đốt cờ ba nước Do Thái, Mỹ và Nga, là ba quỷ Sa Tăng mà Hồi giáo phải đối phó.

Sáu ngày sau, tướng Kenan Evren, Tổng tham mưu trưởng (có tin đồn là được HK bật đèn xanh), dàn chiến xa ở các góc đường, kiểm duyệt thông tin, bắt hết các lãnh tụ chính trị, thiết quân luật, đình chỉ Hiến pháp, Quốc Hội, ngưng chức 1,700 thị trưởng và tuyên bố chế độ quân sự, bắt 1,800 đảng viên PKK, 80,000 người Kurd. Ocalan trốn sang Syria.

Lúc ấy đang có vụ bắt cóc con tin ở Tòa Ðại Sứ HK ở Teheran, TT Carter Ở đang lo nếu Thổ theo con đường như Iran thì toàn thể thế an ninh Tây phương ở Trung Ðông sẽ vô cùng bấp bênh Ở mừng quá, vội tăng mạnh viện trợ quân sự trong hai năm tới. Nhưng sự thật thì cuộc đảo chánh không đổ máu của tướng Evren có hai mục đích: diệt chủ nghĩa quốc gia Kurd và bịt mồm phe Hồi giáo quá khích của Erbakan. 15,000 người bị bắt giam ngay sau cuộc đảo chánh; đến cuối 1980 con số chính thức là 32,000, đến 1983 là 60,000. Tin ngoài ước lượng con số lên đến 175,000. Bắt đầu từ năm 1984, PKK tuyên truyền chống Thổ, lâu lâu kèm với các vụ bạo động nhắm vào nhất là các tuần phu trong làng được giới quân sự tổ chức từ 1985, bạo động ngày càng tàn nhẫn hơn từ 1987 đến 1991, không những đối với người Thổ mà cả đối với người Kurd bị người Thổ cưỡng bách làm tuần phu làng. Hậu quả là Thổ cần nhiều vũ khí hơn để đàn áp. Sau Carter đến Reagan lại còn thân Thổ hơn nữa. Vì Thổ là tiền đồn chống Iran và Liên Xô nên vũ khí Mỹ thừa mứa ở đấy.

*

Mười ngày sau cuộc đảo chánh 1980 ở Thổ, Saddam Hussein tấn công Iran. Thổ hưởng lợi, tăng xuất nhập cảng với cả hai nước, đặt ống dẫn dầu từ Kirkuk đến một hải cảng Thổ trên Ðịa Trung Hải. Nhưng Iraq vì mải đánh nhau với Iran không đủ sức kiểm soát vùng biên giới Thổ. Dân Kurd ở đó, đồng minh với Iran, nổi loạn. Iraq phải ký đình chiến với Kurd. Năm 1983 Ngoại trưởng Thổ bay sang Baghdad dọa khóa ông dầu nếu Iraq không chế ngự được Kurd. Từ 1984 đến 1988, PKK lấy miền bắc Iraq làm khu an toàn. Năm 1986-87, Thổ áp dụng hiệp định năm 1978 ký với Iraq cho phép Thổ vượt biên giới truy kích quân du kích, nhưng các cuộc oanh kích không có hiệu quả và đó là một lý do khiến trận chiến Iran-Iraq kéo dài và tốn kém cho Iraq đến $500 tỉ. Khi chiến tranh gần kết thúc, Iraq thả bom hơi ngạt ở tỉnh Halabja do người Kurd và Iran chiếm, làm 5,000 người chết. Sau chiến tranh, Saddam còn hành hình hàng ngàn người Kurd, trong nội một vụ đã có đến 8,000 người theo Barzani mất tích, san bằng 4,000 làng Kurd.

Thế nhưng năm 1983 Bộ Ngoại Giao HK vẫn rút tên Iraq ra khỏi danh sách các quốc gia ủng hộ khủng bố, vài tuần sau cho tên Iran vào thay chỗ và chính thức, lập quan hệ ngoại giao với Iraq. Vũ khí HK lại tuôn vào Iraq bằng đường lối chính thức nhưng nhiều hơn là bằng đường buôn lậu qua Jordan.


%% Xin xem tiếp phần sau