Hồ Chí Minh và đệ tử
hay
Việt Cộng: người thật, việc thật (tiếp theo)

Việt Thường

Riêng tôi, xin mạo muội như sau:

Bất cứ công việc nào cũng nên chia ra làm nhiều phần, phần quan trọng nhiều, phần quan trọng ít. Có thể cùng làm song song, có thể có phần cần làm trước, phần sẽ làm sau.

Hiện nay, phần cần làm trước là việc dịch tài liệu giải độc. Tôi thấy hai cuốn của tác giả Việt Thường tạm đủ... giới thiệu các nhân vật Việt Cộng, từ Hồ Chí Minh trở đi rồi. Vậy hãy dịch ngay để phổ biến.

Sau đó sẽ đến phần chuyên... giới thiệu từng cá nhân. Phần này, trước hết, chọn những người đầu sỏ cộng sản gia nhập đảng trước ngày cướp được chính quyền, rồi sau đó có giữ những chức vị quan trọng, để lập danh sách I. Lý do là có như thế mới thẩm định được là họ gia nhập đảng vì "lý tưởng" ra sao và khi có quyền lực trong tay thì họ thực hiện "lý tưởng" như thế nào.

Khác với loại gia nhập vì "thời cơ, trở cờ" hoặc vì trưởng thành dưới chế độ, mà chắc phần lớn là do quyền lợi. Nhóm người này, ta để trong danh sách II, gồm những người gia nhập sau ngày đảng thành công, mà có giữ những chức vụ trọng yếu.

Cuối cùng là danh sách III, gồm những "liệt sĩ" cộng sản chết lãng nhách, không có cơ hội thực hiện... lý tưởng. Danh sách này tuy vậy vẫn có một giá trị, vì nó chứng minh bản chất, nguồn gốc những người chọn "lý tưởng" cộng sản là loại người nào, để soi sáng cho những người sinh sau đẻ muộn.

Ngoài ra, để cho công bằng, ta cũng phải lập ra danh sách những người thiên cộng có tên tuổi, rồi danh sách những người chống cộng vì địa vị, vì tiền bạc, cũng như những người quốc gia yêu nước thương nòi chân chính. Cần có những danh sách riêng biệt để người tra cứu khỏi nhầm lẫn, lại cũng khiến khỏi tủi lòng những người thực tâm vì quốc gia dân tộc bị xếp cá mè một lứa.

Vậy, tôi xin bắt đầu bằng danh sách I, kê khai một số danh tính mà tôi biết, theo thứ tự a, b, c xếp theo "họ". Chiếu theo bảng danh sách, ai biết về người nào thì viết ra, gửi về NgD để công bố lên cho mọi người thẩm định. Nếu thân hữu/độc giả nào thấy cần bổ túc về người, về việc, ta sẽ ghi thêm. Chúng ta chỉ sợ thiếu sót, mà không sợ dư thừa.

Theo kiểu này, ta có thể làm những tấm phiếu về từng người, từng vần, bỏ vào từng ô, tiện cho mọi việc tra cứu và bổ khuyết. Khi đã tạm đủ, thì mang in để phổ biến, lưu hành.

Bây giờ, tôi xin liệt kê (danh sách I):

Vần B: Bùi Công Trừng,

Vần C: Chu Văn Tấn, Chu Huy Mân, Cù Huy Cận, Cao Hồng Lãnh,

Vần D/Ð: Dương Bạch Mai, Ðỗ Mười, Ðặng Xuân Khu, Ðặng Thai Mai,

Vần H, K: Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Hoan, Hạ Bá Cang, Khuất Duy Tiến,

Vần L: Lê Văn Lương, Lê Ðức Thọ, Lê Duẩn, Lê Thanh Nghị,

Vần N: Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Bình, Nguyễn Khang, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thị Ðịnh, Nguyễn Thị Thập,

Vần P: Phan Bôi, Phan Thao, Phạm Văn Ðồng, Phạm Hùng, Phạm Ngọc Thạch,

Vần T: Trần Văn Giàu, Tố Hữu, Trần Ðộ, Trần Huy Liệu, Trần Quốc Hoàn, Trần Văn Trà, Trần Ðăng Ninh,

Vần U, V, X: Ung Văn Khiêm, Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy,

Lại cũng xin thí dụ một lý lịch, bắt đầu bằng người tên tuổi nhất:

HỒ CHÍ MINH (1890-1969), sinh tại làng Kim Liên, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An, con phó bảng Nguyễn Sinh Huy và bà Hoàng Thị Loan.

Lúc nhỏ tên Nguyễn Sinh Cung. Lớn lên đi học tên Nguyễn Tất Thành, tiểu học tại trường Ðông Ba (Huế), trung học tại Quốc Học. Vì cụ Huy làm tri huyện tra tấn chết người, bị sa thải, Nguyễn Tất Thành không còn điều kiện tiếp tục việc học, giữa năm 1911 làm bồi tàu sang Pháp, xin học Trường Thuộc Ðịa không được, tiếp tục làm bồi tàu, hốt tuyết, rửa chén. Năm 1917 về Paris theo cụ Phan Chu Trinh trong Hội Những Người An Nam Yêu Nước, Ðảng Xã Hội. Năm 1919 phụ trách việc nạp yêu sách 8 điểm tại Hội Nghị Versailles dưới tên Nguyễn ái Quốc, bút hiệu chung của nhóm người lãnh đạo Hội trên, nên nổi tiếng từ đấy.

Có lẽ thấy không được hợp tác với Pháp, không có vị thế gì trong đám người Việt, hi vọng vào lời hứa hẹn của Lenin về thuộc địa, cuối năm 1920 Thành tham gia hội nghị Tours, thành lập Ðảng Cộng Sản Pháp. Giữa năm 1923 được Manuilski chọn sang Liên Xô học nghề gián điệp, khuynh đảo, phát triển cơ sở cộng sản. Cuối 1924 về Quảng Châu, công tác trong phái đoàn Borodine, thuộc Bộ Phương Ðông, đặc trách Cục Phương Nam, thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội, Hội Liên Hiệp Các Dân Tộc Bị áp Bức Ở á Ðông...

Trong thời gian này, Thành tỏ ra rất xuất sắc trong hai việc:

1/ Chỉ điểm cho Pháp bắt nhà cách mạng hàng đầu Phan Bội Châu. Với việc này:

- Hâm nóng lại việc chống Pháp

- Ðược một món tiền lớn

- Những người yêu nước Việt Nam mất người lãnh đạo

- Trong khi mọi người bơ vơ, mất lãnh tụ, Thành mạo nhận chuyện yêu nước, độc quyền kết nạp đảng viên, ra lệnh mọi người khai lý lịch rành rẽ và nộp hai tấm hình. Ai theo Thành thì yên thân. Ai phản đối, Thành trao hình và lý lịch cho Pháp bắt bớ đương sự, thân nhân, bằng hữu.

Giữa năm 1928, Thành về Thái Lan hoạt động và thành lập Ðảng Cộng Sản. Ðầu năm 1930 thống nhất ba đảng cộng sản trong nước thành Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Chữ Việt Nam là do Thành cố ý nhập nhằng để đánh lừa những người yêu nước. Tuy nhiên Quốc Tế 3 không chấp nhận, bắt đổi thành Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Tháng 6 năm 1932, Thành bị mật thám Anh bắt tại Hương Cảng, đầu năm 1933 được trả tự do, trở về Liên Xô.

Ðầu năm 1938, Thành trở lại hoạt động ở Quảng Tây trong Bát Lộ Quân Trung Cộng. Cuối năm 1940 về nước lập căn cứ ở Pắc Bó, kế biên giới Trung Hoa, thuộc Cao Bằng. Tháng 8, 1942, mạo tên Hồ Chí Minh (2), bí danh của cụ Hồ Học Lãm, lãnh tụ Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh), Thành trở sang Trung Quốc, bị bắt giam. Tháng 9, 1943 được các nhà cách mạng Việt Nam quốc gia can thiệp trả tự do, ông gia nhập Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội và xin được giao nhân sự, khí giới, tiền bạc về nước. Cuối năm 1944, ông thành lập Ðội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân và Khu Giải Phóng Việt Bắc.

Ngày 25-8-1945 ông về Hà Nội chủ tọa phiên họp của Tổng Bộ Việt Minh, thành lập chính phủ lâm thời. Ngày 2-9 đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ðại khái như thế. Ðến đây, tôi xin tạm ngưng, để quí vị tiếp. Vì thực ra công việc này cần rất nhiều công sức, thời gian, tiền bạc. Ðúng ra, nó đòi hỏi một cơ quan đỡ đầu về tiền bạc (foundation). Có tiền, chúng ta có thể trả chút ít cho những người viết gửi về, gọi là có chút khích lệ. Chúng ta lại cần tiền để thuê người kiểm chứng, sắp xếp cho tài liệu thành xác thực, hợp lý. Chúng ta cần tiền để dịch tài liệu ra Anh ngữ, để in ấn vân vân...

Quả thật chúng ta cần những vị mạnh thường quân, ngoài những đóng góp khiêm nhượng của những người hằng tâm nhưng không hằng sản.

1. Chính cụ Thụy viết "luôn luôn ước mong thấy bộ VSKL đem lại bổ ích cho độc giả, mà không có chi bổ ích hơn là được những độc giả (như ông Tô Sử) cho biết những sai lầm thiếu sót". Và nhiều thân hữu/độc giả NgD đã lên tiếng với cụ Thụy về điểm này.
Tuy nhiên, cho đến nay cụ Thụy vẫn thủ khẩu như bình. Vậy xin để mọi người tuỳ nghi suy diễn về... sử gia.
2. Thành trước sau dùng gần ba chục bí danh để hoạt động, gồm đủ tên Tây, Tàu, Nga, Việt.
Trong thời gian này, Thành tỏ ra rất xuất sắc trong hai việc:
* Chỉ điểm cho Pháp bắt nhà cách mạnhg hàng đầu Phan Bội Châu. Với việc này,
-những người yêu nước Việt Nam mất một người lãnh đạo.
- Thành được một món tiền lớn
- hâm nóng lại việc chống Pháp
* Trong khi mọi người bơ vơ, mất lãnh tụ, Thành mạo nhận chuyện yêu nước, độc quyền kết nạp đảng viên
Thành ra lệnh mọi người khai lý lịch rành rẽ và nộp hai tấm hình. Ai theo Thành thì yên thân, Ai phản đối, Thành trao hình lý lịch cho Pháp bắt bớ đương sự, thân nhân, bằng hữu.

%% Trở lại mục lục