Trận chiến tư tưởng-văn hóa trên chiến trường ở hải ngoại

Lý Tuấn

Sự thành hình cộng động người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại với quyết tâm đấu tranh cho một nước Việt Nam dân chủ tự do; với tinh thần bảo vệ văn hóa dân tộc làm hiện rõ mặt trái của vai trò Hồ Chí Minh và tổ chức đảng cộng sản của hắn chỉ là tay sai, là công cụ của ngoại bang, thực hiện âm mưu bành trướng thuộc địa của đế quốc đỏ Nga-Tàu bằng chiến tranh vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam v.v... là những dữ kiện làm nguyên nhân chính nghĩa mà tập thể tị nạn cộng sản chúng ta đang theo đuổi -không phải chỉ mới xảy ra, mà nó được thể hiện ngay từ sau ngày 30-4-1975.

Gần ba thập niên qua, tập thể tị nạn cộng sản ở hải ngoại đã cực lực chiến đấu chống các chính sách tuyên truyền, xâm nhập của "tư tưởng văn hóa xã hội chủ nghĩa"; chống mọi âm mưu tuyên truyền ru ngủ đưa cộng đồng này vào vòng quản trị của ngụy quyền Hà-nội; đồng thời phải chịu đựng mọi sự tấn công và sỉ nhục của chúng. Mặc dù vậy, tập thể tị nạn vẫn giữ vững tinh thần, vị trí nhờ vào lòng kiên quyết và hy sinh của đại đa số thầm lặng; đối phó và đánh tan chiến dịch "treo hình Hồ và cờ máu" do tên Việt cộng Trần Trường khai chiến ở Nam Ca-li vài năm trước đây; tiếp theo là sự thể hiện đồng nhất về tư tưởng trong ngày chào mừng "Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ" tháng tư vừa qua.

Các biến cố đó xác định ý chí tạo thành sức mạnh của đại đa số thầm lặng, đã đẩy lui được sự tiến công về tuyên truyền, tuyên vận ngụy trang dưới nhiều hình thức mà chiêu bài quan trọng nhất là "giao lưu văn hóa một chiều" của tập đoàn đảng Việt gian cộng sản.

Ngụy quyền Hà-nội, qua bọn nằm vùng, tay sai, cò mồi, chơi trò nhập nhằng "cờ đỏ, cờ vàng" lẫn lộn, với mục đích đẻ ra một "mặt trận giải phóng (hải ngoại) miền Nam" trong cộng đồng tị nạn, nhưng bị phát giác và chận đứng kịp thời.

Khi cuộc đấu tranh vinh danh "Quốc kỳ Việt Nam với nền Vàng và Ba sọc đỏ" phát động và lan rộng trên khắp các tiểu bang ở Hoa-Kỳ với sự ủng hộ của người Việt tị nạn trên thế giới, chúng ta thấy phản ứng cực kỳ mãnh liệt của ngụy quyền Hà-nội. Chúng huy động cả bộ máy thông tin truyên truyền ở trong nước, từ tờ Nhân dân đến các tờ Ðảng cộng sản, Xây dựng đảng - đều tập trung vào việc đánh phá, bôi nhọ cuộc đấu tranh của tập thể - Ngoài ra, chúng còn gửi một phái đoàn gồm: bộ ngoại giao, bộ công an, ban dân vận trung ương, mặt trận tổ quốc Việt Nam v.v... ra hải ngoại để hăm dọa, đi đêm, mua chuộc, gây rối loạn, chia rẽ hàng ngũ đấu tranh trong cộng đồng.

Nhìn xa hơn, ta sẽ thấy đoàn công tác này còn có nhiệm vụ tổ chức một chi nhánh của "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" ở hải ngoại; tái chỉnh đốn hàng ngũ nằm vùng, văn nô, bồi bút bưng bô vì đã bị lộ diện từ lâu; xây dựng một hệ thống công an tình báo để theo dõi và đối phó mọi biến chuyển của cộng đồng; chuẩn bị cho những cuộc tuyên truyền, tuyên vận về "tư tưởng Hồ Chí Minh"; về tư tưởng văn hóa xã hội chủ nghĩa; giải độc về chính sách bán nước cho Tàu cộng; giải thích, tuyên dương và phổ biến chính sách "đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh"; đặc biệt là "cờ đỏ" dù không được chấp nhận hoàn toàn thì nó cũng phải tìm cách được treo song song với Cờ Vàng trong cộng đồng tị nạn, để quốc tế công nhận chúng cũng có được một số người tị nạn ủng hộ; gây ra phong trào ủng hộ những "chiến sĩ đấu tranh dân chủ cuội" ở trong nước v.v... Nhưng, thực chất của mọi vấn đề là không ngoài mục tiêu hướng dẫn cộng đồng đi vào con đường "chống cái sai của đảng để đảng sửa sai và tiếp tục thống trị Việt Nam". Nói cách khác, đó là phương pháp dập tắt cuộc đấu tranh để gom cộng đồng về một mối, đặt dưới sự lãnh đạo của chúng qua chi nhánh "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" và sự giám sát, kiểm soát của một bộ phận chuyên chính là - công an - ở hải ngoại.

Tóm lại, chúng đã phải tung ra một lực lượng hùng hậu là vì thừa hiểu "Quốc Kỳ nền Vàng và Ba sọc đỏ" không chỉ tượng trưng cho ước vọng về dân chủ, nhân quyền, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam, mà nó còn cho thế giới thấy rằng dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục đấu tranh khi "đảng cộng sản Việt Nam" còn đó. Cái nguy hiểm cho chúng là nếu Quốc Kỳ này được công nhận thì những tuyên truyền lưu manh, mị dân trong suốt quá trình lịch sử của đảng là bịp, chẳng riêng gì với nhân dân Việt Nam mà cả quốc tế. Nhưng rồi, không sớm thì muộn, cái bịp của "bác và đảng" cũng phải lòi mặt ra như quan thầy Nga-xô.

Một điều lý thú hơn nữa là dù mạnh miệng, chúng cũng đã để lộ cho thấy những dấu hiệu co cụm, lúng túng được thể hiện qua câu nói của Nguyễn đình Bin về "Quốc kỳ nền Vàng với ba sọc đỏ phất phới tung bay ở mọi nơi, nhất là ở Hoa-kỳ", dù chưa được thượng viện Mỹ thông qua thành luật, nhưng cũng được công nhận bán chính thức qua luật pháp của một số địa phương, là: "xúc phạm, nổi cộm không thể chấp nhận được". Nhưng không giải thích lý do "tại sao?" Mà làm sao giải thích được, vì nguồn gốc "cờ đỏ" đâu còn gì là bí mật đối với tập thể tị nạn. Thế nên, tạo "huyền thoại hoặc chính nghĩa cho cờ đỏ" như văn nô, bồi bút từ trong nước ra hải ngoại đã từng mất nhiều công sức cho Hồ nhưng cũng chẳng tới đâu, đành phải để nó qua một bên. Ðồng thời, chúng cũng biết là nếu tiếp tục tuyên truyền kiểu "phất cờ máu" như vụ Trần Trường thì sẽ bị ném đá nên đoàn công tác im re không hề có một lời nhắc đến "cờ đỏ khi đòi bỏ cờ vàng"; hoặc tỏ thái độ "yêu núm ruột xa ngàn dặm" bằng cách khuyên cộng đồng nên treo "cờ Ðỏ hay cờ Trắng"! Thôi thì đành chờ đến khi "Cờ Vàng" phất phới tung bay ở Sài-gòn - Hà-nội, lúc đó giải thích mới thuận tình thuận lý và cũng không muộn!

Vậy thì làm cách gì để phát triển kế hoạch "đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ"? Chỉ còn con đường hay nhất để giải quyết vấn đề gai góc này là đảng nên vất nó vào sọt rác là yên chuyện. Tuy nhiên, có một sự thật phải công nhận là đoàn công tác của đảng đã được một màn du lịch hải ngoại để thấy cái "lạc hậu" của người tị nạn cộng sản vì chẳng có ma nào "yêu đảng của bác" cả, nên đoàn lạnh cẳng, đâu có chường mặt trực tiếp đối diện người tị nạn vì sợ phải dùng cửa hậu. Cái thành công huy hoàng nhất của đoàn là các chầu đớp hít, nhậu nhẹt và ba hoa chích chòe xả láng rất ư là thoải mái.

Quan sát vấn đề thận trọng hơn thì sẽ thấy cuộc đấu tranh ngày nay đang đi vào chiều hướng thực tế, đó là - sự khẳng định rõ ràng một lằn ranh giữa Cờ Vàng và Cờ Ðỏ - có nghĩa là một sự xác định những khác biệt giữa dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền và độc đảng, độc tài, gian ác toàn chế v.v... Ðó mới chính là nguyên nhân làm cho mặt thật của chúng bị lòi ra ánh sáng chỉ là tập đoàn Việt gian bán nước, giết dân thật man rợ; chế độ thì mục nát, tham ô, cửa quyền đưa đất nước xuống bờ vực thẳm, được Nguyễn đình Bin thú nhận: "Dân chúng vẫn nghèo đói và bệnh tật" - đó là kết quả đương nhiên sau gần ba thập niên "đảng" thống trị và vơ vét toàn đất nước Việt Nam. Những dữ kiện đó là chứng cớ hội đủ điều kiện làm sức bật có tác động đủ đưa chúng vào chu kỳ sụp đổ như các nước xã hội chủ nghĩa ở Nga và Ðông-âu trong một tương lai không xa.

Những vấn đề nêu trên chỉ giữ phần phụ trong nhiệm vụ yểm trợ, làm hỏa mù gây lạc hướng cộng đồng không còn chú ý đến mục tiêu chính là "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" trong đoàn công tác của ngụy quyền Hà-nội.

Tại sao lại là "Mặt trận tổ quốc Việt Nam"? Xin quay lại quá trình lịch sử để có dữ kiện so sánh những hành động của chúng hiện nay, như sau:

- Sau khi đặt được ách thống trị đỏ lên phân nửa đất nước là miền Bắc Việt Nam, Hồ chí Minh đã vội vã thay thế "Mặt trận Liên Việt (do Hồ lập ra)" bằng "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1956)" để chuẩn bị cho cuộc chiến xâm lược miền Nam bằng vũ trang. Ðây là ý đồ lưu manh, vì "Tổ quốc Việt Nam" có nghĩa bao trùm gồm cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam, cùng với những điều lệ đặt miền Nam Việt Nam vào vị trí là một thành phần trong "Mặt trận tổ quốc Việt Nam", và nó mang hàm tính hạ thấp chính quyền miền Nam Việt Nam xuống thành một "tổ chức". Từ điểm này, ta có thể lý giải rằng nếu chính phủ Ngô Ðình Diệm cho tổ chức tổng tuyển cử như hiệp định Genève 1954 ấn định, thì hóa ra nước Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận làm một thành viên trong "Mặt trận tổ quốc Việt Nam", tranh cử các chức vụ với các "tổ chức vệ tinh của đảng cộng sản như: Thanh niên Hồ chí Minh, Hội Phụ nữ v.v..." Và như vậy là chính phủ miền Nam Việt Nam thừa nhận vai trò lãnh đạo toàn đất nước Việt Nam của Hồ chí Minh. Tổng tuyển cử đã không xảy ra.

- Nghị quyết 15, khóa 2, tháng 1 năm 1959 (không phổ biến), quyết định tiến hành xâm lược miền Nam Việt Nam bằng vũ trang qua cuộc họp hội nghị trung ương lần 15 của Hồ chí Minh và các chóp bu đảng cộng sản; đã khiến chính quyền của cố tổng thống Ngô Ðình Diệm phải ban hành sắc luật 10/59, để chống lại chủ trương bạo lực của Hồ, bảo vệ nước Việt Nam Cộng Hòa. Sắc luật này ra đời vào tháng 10 năm 1959. Ðến đây, chúng ta mới thấy sự thay "Mặt trận Liên Việt" bằng "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" chính là âm mưu bắt buộc chính quyền miền Nam không chấp nhận tổng tuyển cử để Hồ và bè lũ quân đánh thuê cộng sản có cớ tiến hành chiến tranh vũ trang mà, theo nguyên nhân nổi, lỗi tại chính quyền miền Nam đã không thi hành hiệp định Genève 1954; để che dấu cái "nguyên nhân chìm", tức quyết định xâm lược miền Nam bằng quân sự của Hồ chí Minh. Giờ đây, kế hoạch "Mặt trận tổ quốc Việt Nam và nghị quyết 15 tháng 1/1959" không còn là điều bí ẩn. Trắng ra trắng, đen ra đen: "Rằng nước Việt Nam Cộng Hòa là nạn nhân, vì hoàn toàn nằm trong vị thế bị xâm lăng bằng quân sự từ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa."

Nhưng tiếc thay, một nhà "ly khai đòi dân chủ" cho Việt Nam của đảng cộng sản, nổi tiếng ở hải ngoại là ông cựu đại tá nhà báo, của "quân đội nhân dân" Bùi Tín, đã không hành sử đúng vai trò "ly khai đòi dân chủ" cho đất nước của mình, ông lập lờ trong quyển "Mặt thật" rằng cái nghị quyết 15 ra đời tháng 1/1960, có nghĩa là ra đời sau sắc luật số 10/59 đến 3 tháng. Vậy, qua cách diễn tả của ông cựu đại tá nhà báo Bùi Tín trong quyển "Mặt thật", ông muốn chúng ta phải hiểu, hoặc có ấn tượng rằng Hồ chí Minh và đảng Việt gian cộng sản bị đưa vào tình thế bắt buộc phải dùng đến biện pháp quân sự để tự vệ, vì chính quyền nước Việt Nam Cộng Hòa đe dọa với ý định xâm lược miền Bắc qua sắc luật số 10/59. Nói cách khác, ông cựu đại tá nhà báo Bùi Tín đã cố tình đánh lận con đen bằng cách thay đổi thời gian ra đời của nghị quyết 15 trễ hơn một năm, để biện minh cùng nói lên cái lý do hữu lý của nghị quyết (15) này, tức là cuộc xâm lăng miền Nam bằng quân sự của Hồ và đảng cộng sản là đúng, là chính nghĩa; đó là chủ ý biến đen thành trắng để bạch hóa tội ác xâm lược miền Nam, gây núi xương sông máu và đưa toàn đất nước Việt Nam đến tận cùng hố thẳm. Thế nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi ông Bùi Tín viết trong sách "Mặt thật" rằng: "Người cộng sản cũng có cách "yêu nước" của họ"!

Nay, Vòi bạch tuộc của "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" bắt đầu vươn ra hải ngoại, núp trong cái bóng "đoàn công tác" của Nguyễn đình Bin. Nó bắt đầu ngo ngoe, cựa quậy không khác gì Hồ đã thay tên "Mặt trận Liên Việt" thành "Mặt trận tổ quốc Việt Nam". Hai hoàn cảnh tuy có khác về thời gian và không gian, nhưng thực chất của nó vẫn là căn bản của chiêu võ công của Hồ, nếu lưu ý thì sẽ nhận ra.

Rồi đây, "một chi nhánh" của "Mặt trận tổ quốc Việt Nam" sẽ được thành lập ở hải ngoại (có thể đã lập rồi nhưng còn ngụy trang chưa ra mặt). Chắc chắn ngụy quyền Hà-nội sẽ thực hiện tiến trình này, vì không thể nào "qui phục" được tập thể tị nạn. Một ngày nào đó, chúng sẽ nhập nhằng vơ đũa cả nắm, tuyên bố là cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản đã là một thành phần của "Mặt trận tổ quốc Việt Nam", là tài sản của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vì trong "Mặt trận" cũng có những tổ chức, thí dụ như: Hội Người Việt Ðoàn Kết, Hội Từ Thiện A, B v.v... để trình với thế giới.

Còn cái gì có thể xem là tương đồng với nghị quyết 15, khóa 2, tháng 1 năm 1959?

Từ khi anh chàng hoạn lợn "Ðỗ Mười" nhập nhằng tuyên bố: "Người Việt sinh sống ở hải ngoại là: Khúc ruột xa ngàn dặm", mọi chửi rủa, mạt sát, sỉ nhục người tị nạn được tạm ngừng để giải lao. Nếu có, thì cường độ cũng được giảm xuống, chỉ còn "một núm nhỏ cực đoan, quá khích hay chính xác hơn là: phản động" vẫn còn chống "đảng ta", không thèm nhắc hoặc nhớ đến cái "núm nhỏ" khoảng 50 ngàn người tập trung ở Tiểu Sài-gòn hát bài ca "xé cờ máu và vất hình Hồ"; hơn hai mươi ngàn người nghiêm mình chào kính, chào mừng "Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ"; các cộng đồng trên khắp nước Mỹ đang cực lực đấu tranh để vinh danh "Quốc Kỳ Việt Nam với Nền Vàng và Ba sọc đỏ". Mọi chính sách về người Việt tị nạn cộng sản bắt đầu thay đổi cho đúng với tiến trình dụ khị, năn nỉ, cầu khẩn để thể hiện tình "đồng chí". Và tất cả những nhân vật chấp bút thành văn đó đều là "giáo sư, tiến sĩ..." cho ra vẻ "đảng cũng có nhiều trí thức tầm cỡ như anh chàng Ðỗ Mười" hầu sánh vai với vài ông tiến sĩ, kỹ sư... nào đó ở hải ngoại

Cũng kể từ đó, từ cửa miệng của các chóp bu, các hệ thống thông tin tuyên truyền, tuyên vận của đảng đều hồ hởi và đồng loạt ca bài "con cá sống vì nước". Và cái quan trọng nhất là "con cá sống vì nước" được hình thành bằng giấy trắng mực đen trong "nghị quyết 7, khóa 9", rằng: "Người Việt sinh sống ở hải ngoại là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam". Một cuộc chiến xâm lược cộng đồng tị nạn ở hải ngoại bằng chiến tranh tư tưởng -văn hóa đã được quyết định; một nghị quyết 15/59 của thế kỷ 21 ra đời. (Xin phép được hỏi quí vị độc giả đọc bài này có nhận ra được những chữ nào dấu cái ẩn ý của "đảng" trong dòng chữ đó của nghị quyết 7? Xin trả lời: Chỗ ẩn ý là: "Dân tộc Việt Nam = Ðảng cộng sản Việt nam"). Trận chiến tư tưởng -văn hóa trên chiến trường hải ngoại sẽ đi vào quyết liệt và có tính cách quyết định.

Cuộc đấu tranh vinh danh "Quốc kỳ Việt Nam với Nền Vàng và Ba Sọc Ðỏ" đã xảy ra đúng lúc. Cuộc đấu tranh này chính là mũi nhọn phá vỡ mọi chiến dịch của chúng. Vì ít ra, "Quốc kỳ Vàng Ba sọc đỏ" cũng đã được công nhận là tượng trưng cho "Dân chủ, tự do, nhân quyền", đó là khát vọng không phải của riêng dân tộc Việt Nam, mà là của chung nhân loại trên địa cầu này. "Cờ Ðỏ Sao Vàng", dù tập đoàn ngụy quyền Hà-nội có tuyên truyền bịp cách gì đi chăng nữa thì cái thực chất ý nghĩa của nó vẫn là "ngược lại Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ".

"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" và nghị quyết 7 khóa 9 đẻ ra cái phái đoàn Nguyễn đình Bin chỉ là những vẫy vùng cho sự sống còn của tập đoàn đảng cộng sản Việt Nam.

Ðại đa số thầm lặng và nhất là giới trẻ đã thăng bằng được cuộc đấu tranh hiện nay; đã xây dựng được nền móng của con đường tất yếu cho cuộc đấu tranh.

Sự kiên nhẫn và hy sinh của tập thể tị nạn cộng sản, nhất là đại đa số thầm lặng và giới trẻ, đã cho thấy kết quả cụ thể là, thế phòng thủ của tập thể đang chuyển mình qua thế tấn công trên mặt trận chính trị quan trọng này. Ðây là lần đầu tiên trong suốt quá trình đấu tranh gần ba thập niên qua, ta đã đẩy được địch vào thế phòng thủ.

Tuy nhiên, ước mong mọi người không bao giờ quên câu "Thắng không kiêu, bại không nản"!!!

Ngày 01/08/2003


%% Trở lại mục lục