Vùng Dầu Sôi Lửa Bỏng
Kỳ II

Nguyễn Trần Ai

II. VANG BÓNG MộT THờI

1. TRUNG ÐÔNG Tiền-Hồi GIáo: JAHILIYYA

Thế giới Hồi giáo Trung Ðông ngày nay, đông bắc có Hắc Hải, tây bắc có Ðịa Trung Hải và đảo Cyprus (9,000 km2) với thủ đô Nicosia, kẹp ở giữa hai bể này là Thổ Nhĩ Kỳ (779,000 km2) với thủ đô Ankara. Tây nam Thổ, dọc duyên hải Ðịa Trung Hải là Syria (185,000 km2) với thủ đô Damascus, giáp giới Thổ, rồi đến Lebanon (10,000 km2) với thủ đô Beirut, Israel (21,000 km2) với thủ đô Jerusalem, Jordan (91,000 km2) với thủ đô Amman, đều quay ra Ðịa Trung Hải; các nước này và bắc bộ Iraq gọi chung là Vùng Trăng Khuyết Phì Nhiêu (the Fertile Crescent). Về phía đông các nước này là Iraq (435,000 km2) với thủ đô Baghdad và về phía nam là bán đảo Ả Rập gồm phần chính là Ả Rập Saudi (2,200,000 km2) với thủ đô Riyadh; bán đảo được bao bọc bởi Vịnh Ba Tư ở phía đông, Ấn Ðộ Dương ở phía nam, Hồng Hải ở phía tây; được viền bởi một số tiểu quốc được gọi là sheikh-quốc (sheikhdom) hay emir-quốc (emirate): cực bắc của vịnh Ba Tư có Kuwait (Kuw nghĩa là pháo đài, Kuwait là tiểu pháo đài, 17,000 km2) với thủ đô Kuwait City là một hình tam giác kẹt giữa Iraq và Ả Rập Saudi (vì thế được gọi là cái nách của Vịnh); vào khoảng giữa vịnh sát bán đảo có đảo quốc Bahrain (687 km2) với thủ đô Manama, bán đảo Qatar (11,000 km2) với thủ đô Doha, vươn lên phía bắc như ôm lấy Bahrain; rồi đến Liên Hiệp Emir quốc Ả Rập (UAE = United Arab Emirates, 84,000 km2) với thủ đô Abu Dhabi, tiếp nối về phía nam có Oman (300,000 km2) với thủ đô Muscat, và hai nước Bắc Nam Yemen (531,000 km2) thống nhất năm 1990 với thủ đô Sanaa.

Emir quốc Ả Rập (UAE) gồm 7 sheikh quốc, Abu Dhabi, Ajman, Dubai, Fujairah, Umm al-Qaywayn, Shrjah, Ras al-Khaimah, thành lập ngày 2.12.1971 sau khi Iraq cắt đứt liên lạc ngoại giao với Iran.

Iran (1,684,000 km2) với thủ đô Tehran, phía tây giáp ranh với Thổ và Iraq, phía bắc giáp ranh với Armenia và Azerbaijan rồi đến biển Caspian và Turkmenistan, phía đông giáp ranh với Afghanistan và Pakistan, phía nam là Vịnh Ba Tư vào thập niên 1950 đổi thành Biển Ả Rập.

Về phía tây bán đảo Ả Rập, bên kia bờ Hồng Hải là các nước Phi Châu trong lịch sử có nhiều liên hệ với Trung Ðông Hồi giáo; theo chiều bắc nam là bán đảo Sinai và Ai Cập (1,000,000 km2) với thủ đô Cairo, rồi đến Sudan (2,205,000 km2) với thủ đô Khartoum, Ethiopia (1,221,000 km2) với thủ đô Addis Ababa, Somalia (638,000 km2) với thủ đô Mogadishu; phía tây của Ai Cập là Libya (1,760,000 km2) với thủ đô Tripoli, rồi đến Algeria (2,400,000 km2) với thủ đô Algiers.

Libya là tên người Ý đặt cho hai thuộc địa Tripolitania và Cyrenaica của họ được hợp nhất vào tháng 1.1934.

TT Nasser của Ai Cập định nghĩa người Ả Rập là tất cả những người nói tiếng Ả Rập; như thế người Ả Rập là những người cư ngụ dọc mép phía bắc Phi Châu từ Morocco đến Ai Cập và Trung Ðông. Chúng ta không phân biệt người Ả Rập như mô tả trên đây với dân cư của bán đảo Ả Rập, bây giờ nói rõ hơn là Ả Rập Saudi. Tiếng Anh dùng chữ Arab để chỉ những người của thế giới Ả Rập nói chung và Arabian để chỉ những người của Ả Rập Saudi. 10% người Ả Rập không theo Hồi giáo và hàng triệu người không phải là Ả Rập khắp nơi trên thế giới lại theo Hồi giáo.

*

Tiếng Ả Rập Jahiliyya có nghĩa là thời kỳ ảm đạm, đen tối. Ðó là đặc tính của vùng trước kia có tên là Cận Ðông, sau đổi là Trung Ðông khi người Tây phương nới tầm mắt của họ rộng thêm ra.

Vào tk X TK (thế kỷ thứ mười trước Ki tô), vương quốc của các vua David và Salomon bị chia ra, bắc phần gọi là Israel sau đổi là Samaria và nam phần gọi là Judah với Jerusalem là thủ đô. Các vùng duyên hải Ðịa Trung Hải, bắc được gọi là Phoenicia và nam là Philistia. Philistia biến mất trong lịch sử sau các cuộc xâm lăng của Babylonia. Người Phoenicia cư ngụ tại đồng bằng duyên hải ở phía bắc Israel và phía nam Lebanon ngày nay. Ðế quốc La Mã gọi nam phần là Judea, trung phần là Samaria, bắc phần là Galilee, và sa mạc ở nam phần là Idumea (trong Kinh Thánh là Edom), ngày nay là Negev và Perea ở đông phần sông Jordan.

Năm 586 TK, vua Babylonia là Nê-bu-cát-nết-sa (Nebuchadnezzar) chiếm Jerusalem, phá vương quốc Judah và đền thờ Do Thái, đày các dân bại trận đến Babylonia. (Một chi tiết cho thấy tính thích đóng kịch người hùng của Saddam Hussein: trước khi tấn công Kuwait mấy ngày, ông ta đã đứng trong chiến xa làm theo kiểu xe của vua Nebuchadnezzar khi đánh Do Thái để chụp ảnh.)

Vài thập niên sau, chính dân Babylonia lại bị hàng phục bởi Cyrus người Mede là sáng tổ của tân đế quốc Ba Tư. Cyrus cho phép người Do Thái ở Babylonia hồi hương về Israel và cho lấy tiền công quỹ tái thiết đền thờ tại Jerusalem, do vua Solomon xây trên ngọn núi Moriah lần đầu tiên. Ðó là vụ Yehud ghi trong Kinh Thánh (Ê-sơ-ra 5:1, 5:8). Cựu Ước ghi lại lòng biết ơn của chính Chúa Trời: "Ðức Giê-hô-va... phán về Si-ru rằng: Nó là người chăn chiên của ta; sẽ làm nên mọi sự ta đẹp lòng" (Ê Sai 44:28) và "Ðức Giê-hô-va phán thế này cùng Si-ru, là người xức dầu của Ngài, ta cầm lấy tay hữu ngươi, đặng hàng phục các nước trước mặt ngươi, và ta sẽ tháo dây lưng các vua; đặng mở cửa các thành trước mặt ngươi, cấm không được đóng lại: Ta sẽ đi trước mặt ngươi, ban bằng các đường gập ghềnh; phá vỡ các cửa bằng đồng, bẻ gãy then cài bằng sắt; ta sẽ ban vật báu chứa trong nơi tối, của cải chứa trong nơi kín cho ngươi" (Ê Sai 45:1-2-3). Có lẽ vì thế mà, trong thế giới Hồi giáo, Ba Tư tương đối ít ác cảm với Israel hơn các nước khác.

Các hậu duệ của Cyrus bành trướng đế quốc Ba Tư đến tận biển Aegean, tiếp xúc và đụng độ với Hi Lạp. Về sau A Lịch Sơn đại đế (356-323 TK) của Macedonia chiếm một vùng rộng lớn bao gồm Trung á qua Ba Tư đến tận Ấn Ðộ và về phía nam suốt Syria và Ai Cập và đặt ảnh hưởng Hi Lạp trên đó. Sau khi ông chết, các tướng của ông chia vùng đất này làm ba vương quốc, đặt căn cứ tại Iran, Syria và Ai Cập.

Từ đầu kỷ nguyên Ki tô giáo, Trung ông chia làm hai phần: 1/ đông phần thuộc đế quốc Ba Tư; 2/ tây phần nằm về đông ngạn ịa Trung Hải từ Bosphorus đến lưu vực sông Nile thuộc đế quốc La Mã, gồm Ai Cập (Copt, Misr Ở tiếng Ả Rập misr, số nhiều amsar có nghĩa là đô thị), Sumer và Akkad, Assyria và Babylonia tức là vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia, Kinh Thánh gọi là Aram Naharayim tức là Aram của hai sông).

Năm 64 TK tướng La Mã là Pompey chinh phục Syria và rồi Judea. Năm 31 TK, tướng Mark Antony của triều đại Ptolemy (323-30 TK) và Cleopatra bị đánh bại tại chiến trường Actium nên Ai Cập cũng bị La Mã đô hộ. Chống lại đế quốc La Mã, chỉ còn Ba Tư, và Do Thái với trợ lực của Ba Tư.

Năm 70 SK (sau Ki tô) La Mã chiếm Jerusalem và phá hủy Ðền thờ đã tái thiết lần thứ nhì. Sau cuộc nổi dậy của Bar-Kokhba vào năm 135, La Mã muốn tận diệt Do Thái bướng bỉnh. Jerusalem được đặt tên mới là Aelia Capitolina, các tên Judea và Samaria bị thay bằng tên Palestine theo tên cổ Philistine. Lần này Do Thái không còn Cyrus để cầu cứu nữa và đành đầu hàng La Mã.

**

Năm 325 hoàng đế Constantine (311-337) cải đạo theo Ki tô giáo. Người ta phân vân không biết Ki tô giáo chiếm lãnh đế quốc La Mã hay, ngược lại, đế quốc La Mã đoạt lấy Ki tô giáo để làm một công cụ bành trướng? Dù sao Ki tô giáo cũng đã phần nào bị La Mã hóa.

Sau khi hoàng đế Theodosius chết năm 395, đế quốc La Mã tách làm hai: tây phần đặt trung tâm ở La Mã, đông phần ở Constantinople (về sau người Thổ đặt tên lại là Istanbul) là thủ đô do vua Constantine kiến thiết trên cố đô Byzantium nên dân ở đây vẫn tự nhận là dân La Mã nhưng phần đất này mang tên là đế quốc Byzantine để phân biệt với đế quốc La Mã. Tây phần bị các giống rợ xâm lăng và tàn phá. Ki tô giáo bị phân hóa trầm trọng. Hoàng đế Justinian (527-569) bèn áp đặt một thứ Ki tô giáo quốc doanh để thống nhất. Ki tô giáo lại bị La Mã hóa thêm một lần nữa, trước khi bị Ả Rập hóa thành Hồi giáo.

2. Hồi Giáo Ả Rập: AS SALAAM ALAYKUM

"As salaam alaykum", Bình an cho tôn ông, "wa alaykim as salaam", và cho cả tôn ông nữa, bình an. Người Ả Rập chào hỏi nhau như thế. Trong thế giới Hồi giáo, chiến tranh triền miên, nên bình an là khát vọng hàng đầu của các người sống trong thế giới ấy, cũng như đói là nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Tàu nên gặp nhau là họ hỏi đã ăn cơm chưa?

Nghiên cứu Trung Ðông thì chỉ đề cập đến Ả Rập ở giai đoạn chót vì khi các đế quốc lớn trong vùng đã thành hình từ lâu thì chưa có một lãnh thổ nào có tên là Ả Rập trên bản đồ thế giới. Nhưng nghiên cứu Hồi giáo thì nên nghiên cứu Ả Rập đầu tiên vì tôn giáo này xuất phát tại đây.

Những đặc điểm của thế giới Ả Rập là 1/ trong số 200 triệu người Ả Rập hiện nay không phải ai cũng theo Hồi giáo và nhiều người theo Hồi giáo không phải là người Ả Rập, 2/ người Ả Rập không tách thần quyền và thế quyền, 3/ người Ả Rập không có ý niệm quốc gia, đối với họ cả khối Ả Rập là một cộng đồng (ummah), bị chia ra thành nhiều địa phương để tiện việc cai trị nên họ trung thành với ummah hơn là với các nhà cầm quyền, nếu nghĩ đến quê hương thì họ nghĩ đến làng mạc của họ chứ không nghĩ đến nước của họ.

Lịch sử Ả Rập trước Hồi giáo ít được biết, trừ một ký ức mơ hồ về một vương quốc Kinda phồn thịnh vào cuối tk V và đầu tk VI. Nhưng trước đó, có lẽ vào khoảng năm ngàn năm trước đây, những dân du mục Ả Rập, Thổ, Mông Cổ từ bắc, tây và nam kéo đến vùng bán sa mạc miền bắc bán đảo, một số định cư ở ven biên tại những vương địa (principality), về sau chịu ảnh hưởng nặng nề của Ba Tư hoặc của Byzantine, như Palmyra nay là Tadmur ở đông nam Syria, và thủ đô Petra của dân Nabatean, nay ở Jordan, năm 104 bị đế quốc La Mã chiếm đóng và đổi tên là Provincia Arabia, quân trú phòng đóng ở Bosra. Trước đó người La Mã đã gọi vùng này là Arabia Felix tức là Ả Rập Hữu Phước chỉ vì họ mê hai sản phẩm ở vùng này là frankincense (nhựa một thứ cây có mùi thơm) và myrrh (nhựa cây mật nhĩ lạp cũng có mùi thơm). Tân Ước có nói đến ba vua (rois mages) dâng Chúa Hài Ðồng hai thứ nhựa này cùng với vàng.

Khác hẳn miền bắc, miền nam là một vùng trù phú, đồng ruộng phì nhiêu. Các tù trưởng Ả Rập được gọi là sheikh (tiếng Ả Rập là shaykh nghĩa là trưởng lão hay sayyid nghĩa là chủ, thầy), không cha truyền con nối nhưng được tuyển lựa trong gia tộc.

Phần lớn bán đảo Ả Rập được bao bọc bởi nước, Ðịa Trung Hải ở phía bắc, biển Ả Rập ở phía nam, Hồng Hải ở phía tây, và ở phía đông là sông Euphrates chảy ra Vịnh Ba Tư. Giữa Ả Rập và những ranh giới thiên nhiên này tùy lúc có những quốc gia khác chen vào. Cũng tùy lúc con đường thông thương Ðông Tây chạy qua vùng Ả Rập khiến vùng này phồn thịnh; nếu nó băng qua vùng khác thì Ả Rập điêu tàn. Con đường ngắn nhất từ Ðịa Trung Hải sang Ðông phương là qua các lãnh thổ Ba Tư hoặc do Ba Tư kiểm soát, nhưng có nhiều trắc trở vì phải lệ thuộc Ba Tư. Con đường khác hoặc là ở phía bắc từ Tàu qua Thổ đổ về Hắc Hải đến lãnh thổ Byzantine, hoặc là ở phía nam qua Ấn Ðộ Dương. Cả hai con đường này hoặc dẫn đến Vịnh Ba Tư, hoặc đến Hồng Hải rồi từ đấy qua Ai Cập và eo đất Suez, hoặc theo đường bộ qua miền tây Ả Rập từ Yemen đến biên giới Syria.

Năm 325 hoàng đế Constantine tuyên bố Ki tô giáo là quốc giáo của đế quốc La Mã. Từ năm 384 đến 502 Byzantine và Ba Tư hòa hoãn nên con đường thông thương qua Ả Rập bị hoang phế và thay thế bằng những con đường qua Ba Tư, thuận tiện, ít nguy hiểm và đỡ tốn kém hơn. Do đó Ả Rập bị mất mối lợi lớn, rơi vào một thời kỳ đen tối cho đến tk VI, Byzantine và Ba Tư tái chiến, lại phải o bế dân Ả Rập.

Ở ven biên sa mạc về phía Byzantine có vương địa Ghassan, đại khái là lãnh thổ Jordan ngày nay; về phía Ba Tư có vương địa Hira. Cư dân ở cả hai phía đều là Ả Rập, đều theo văn hóa Aram và Ki tô giáo nhưng về chính trị thì một bên theo Byzantine, bên kia theo Ba Tư. Năm 527 hoàng đế Byzantine là Justinian khuyến khích Ghassan khiêu chiến với Hĩra. Hai đế quốc đều cố lôi kéo thêm đồng minh.

Ðế quốc Ba Tư kéo được đảo Tiran-Yotabe ở dưới mỏm bán đảo Sinai, theo Do Thái giáo. Ðế quốc Byzantine dụ được một số dân tộc Ả Rập và Ethiopia là tân tòng Ki tô giáo đang chống người Do Thái ở Yemen và người Ba Tư ở xa hơn. Người Ba Tư tiến chiếm Yemen, đuổi người Ethiopia đi. Vào cuối tk VI, tất cả các phe lâm chiến đều yếu đi. Vào tk VII cả hai đế quốc, Byzantine và Ba Tư, đều bị làn sóng Hồi giáo tràn ngập. Thủ đô Constantinople còn giữ được thêm 700 năm nữa cho đến năm 1453, tuy nhiên đế quốc Byzantine đã bị suy nhược và thu hẹp nhiều. Còn đế quốc Ba Tư thì lọt hẳn vào tay đế quốc Ả Rập Hồi giáo. Các người Ki tô giáo và Do Thái giáo trong lãnh thổ Ả Rập bị Ả Rập hóa hoàn toàn. Một nhóm dân gọi là Hanif là những người Ả Rập đầu tiên theo Hồi giáo.

Ayatollah Mirza Hasan Alhaeri Alehghaghi Aloskooee tóm tắt biến chuyển chớp nhoáng và kỳ lạ này:

Người Ả Rập trước Hồi giáo thường thiếu công cụ cho sự vĩ đại và quyền tối thượng, và họ có những tính hung ác nhất. Người Ả Rập sống trong nghèo khổ và bần cùng, trong ngu dốt, trong bạo hành và không có đức tin, trong sự áp bức mà đám thuộc hạ thường phải chịu, trong độc ác, trong vu cáo và lăng mạ, không kém gì những man mọi của Phi Châu thời cổ. Họ không có khoa học, của cải; họ xa lạ với xã hội của nghệ thuật và mậu dịch, và họ không được thông tin về những chân lý cao cả và xã hội. Vì nhu cầu, họ luôn luôn đến với các triều đình của các vua Yemen và Damascus, và những cá nhân đặc sắc trong bọn họ sống bằng nịnh bợ và thi phú hay bằng trộm cắp. Tuy rằng trong văn hóa của họ có sự quả cảm và tự do tâm hồn, nổi lên ở vài người trong bọn họ nhưng không đủ để tiến bộ. Do đó, qua nhiều thế kỷ, không hề thấy có lấy một chuyển động nhỏ nhặt nhất về phía thành tựu. Suốt hai hay ba ngàn năm không có tiếng nói của văn minh Ba Tư và La Mã, không có tiếng hét của những tiến bộ kỹ thuật và khoa học của Ai Cập và Chaldea (những lân bang gần nhất của họ) đánh thức những kẻ ngu si đang say ngủ này. Nếu ngay cả những người giống như Cyrus hay Darius hay những lãnh tụ không lừng danh khác có nổi lên trong đám họ thì cũng không sao có thể khởi xướng bất kỳ một phong trào nào dù là mong manh nhất vì tình trạng hết thuốc chữa của họ, vì vị trí địa lý khắc nghiệt của Ả Rập và vì thành kiến của những kẻ không ra gì trong tâm trí mù quáng của họ.

Rồi, cái gì xẩy ra khiến những truyện về việc xâm lăng và thống trị thế giới của họ được ngay cả người ngoại quốc thuật lại như là sự kỳ diệu phi thường độc nhất trong lịch sử nhân loại? Trong chưa đầy nửa thế kỷ, những người Ả Rập ấy, trong vinh quang và liệt oanh, đạt đến một tư thế đến nỗi họ không thèm ngồi vào ngai vàng của bất cứ ông vua nước ngoài nào hay đặt vương miện của hoàng đế La Mã lên đầu họ. Những bộ lạc ấy, tản mác trong những đồi cát Ả Rập, đan kết trong thời gian ngắn nhất một sợi dây dài và chắc vươn ra từ những đám bộ lạc rời rạc và tập hợp với những vị thầy của văn minh, từ Tàu đến những vùng hẻo lánh nhất ở Phi châu. Tâm hồn nào đó đã đem sự sống đến cho cái chết của tk VII? Và ai là người đã thổi linh hồn vào xác chết của họ? Và làm sao việc ấy xẩy ra nhanh đến thế và ảnh hưởng đến thế? (Letter from the Shiites, 23-4).

Ảnh hưởng ấy thể hiện bằng 1.3 tỉ tín đồ Hồi giáo trên thế giới, trong số đó 25 triệu sống thường xuyên ở Tây phương, còn lại sống tại hơn 70 quốc gia, đấy là chỉ kể những quốc gia mà dân Hồi giáo là dân bản xứ.

Người tạo nên sự nghiệp phi thường ấy là Muhammad (có nghĩa là Ðấng được tôn vinh, the Glorified), người đã khai phát thời kỳ Quang Minh (Islam), chấm dứt thời kỳ Ðần Ðộn (Jahiliyya), tự xưng là Ngôn sứ (Prophet, thường dịch là Tiên tri, trong Do Thái giáo có nghĩa là người được Thượng Ðế chọn để tiết lộ ý Ngài và khuyến khích dân chúng sám hối và tuân hành luật của Ngài, nên tôi thấy dịch là Ngôn sứ có lẽ đúng hơn).

Ðộng từ Ả Rập "Islam" có nghĩa là hàng phục và phân từ (participle) của nó là Muslim nghĩa là người chịu hàng phục, người tự hiến chỉ cho Allah (Thượng Ðế) mà thôi, chứ không cho thần linh nào khác; như thế nhấn mạnh tính nhất thần của Hồi giáo. Có học giả và tác giả Tây phương dùng chữ Muhammadanism để chỉ Hồi giáo. Ðó là một sự sai lầm làm mất lòng người Hồi giáo vì Muhammad không bao giờ nhận là sáng lập một tôn giáo. Ông chỉ nhắc lại những điều ông đã nghe thiên thần Gabriel mặc khải và những điều ấy được ghi trong kinh QuỖran (= Koran, có nghĩa là nhắc lại, cũng như ông A Nan nói như thị ngã văn). Thân thế và sự nghiệp của Muhammad gọi là Sirah và các lời ngài giảng dạy, bình luận, nhận định là Hadith. Sirah chung với Hadith là Sunnah tức là hành trình, gương mẫu hay truyền thống của Ngôn sứ, là căn bản cho các giáo điều, tín ngưỡng, đạo lý của Hồi giáo. Hadith được soạn thảo thành văn tự có lẽ 50 năm sau khi Ngôn sứ chết, thêm thắt rất nhiều để hình ảnh của ngài được trọn vẹn hơn và để chứng minh tính cách thiêng liêng của luật pháp về sau mới đặt ra ngõ hầu thỏa mãn nhu cầu cho một đế quốc bành trướng quá nhanh và quá rộng. Từ năm 870 đến 915 các học giả Hồi giáo đã phải phân các giai thoại trong Hadith thành các loại đúng, tốt và kém; kết quả là chỉ có 500 đúng nhất và trong số 600,000 giai thoại chọn ra được có 7,000 coi là trung thực, nhưng cũng đủ mô tả sinh hoạt của Muhammad.

*


%% Xin xem tiếp phần sau