Nhân vật chí (tt)

Phạm Tưởng sưu tập

NHÂN VẬT QUỐC GIA
NHÂN VậT Số 1: Bảo Ðại (1913-97)

Con vua Khải Ðịnh và bà Hoàng Thị Cúc, tên Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, được phong đông cung thái tử ngày 28-4-1922, rồi nhân đi dự hội chợ tại Pháp, vua mang theo giao cho Charles, khâm sứ đã về hưu, nuôi nấng, trông nom, dạy dỗ... làm vua.

6-11-1925, Khải Ðịnh chết. Cùng ngày, phụ chính đại thần Nguyễn Hữu Bài, phụ chính thân thần Tôn Thất Hân ký qui ước nhường hết quyền lực của vua cho Pháp. Vĩnh Thụy về nước, lên ngôi ngày 8-1-1926, lấy hiệu là Bảo Ðại, rồi trở lại Pháp tiếp tục học. Việc cai trị Trung Kỳ ủy cho Khâm Sứ và Hội Ðồng Thượng Thư do Nguyễn Hữu Bài cầm đầu.

6-9-1932, Bảo Ðại từ Pháp về, có cả Charles đi theo để... cố vấn. Ngày mồng 9, toàn quyền Pasquier (Pierre, 1928-34) vào thăm. Mồng 10, Bảo Ðại tuyên bố chấp chính, bỏ quỳ lậy. 11-11 tuyển Phạm Quỳnh làm ngự tiền tổng lý.

2-5-1933, Bảo Ðại giải tán hội đồng thượng thư già nua Nguyễn Hữu Bài, lập nội các trẻ, dùng Ngô Ðình Diệm làm thượng thư bộ lại, Nguyễn Ðệ làm thư ký riêng.

Mười chín tuổi, vừa ở Pháp về, hẳn phải có ý muốn đổi mới nhưng tất nhiên Bảo Ðại chẳng biết ngô khoai gì, mà đều do Pháp và Giáo Hội (qua Nguyễn Hữu Bài) tiến cử:

Phạm Quỳnh, 35 tuổi, tốt nghiệp Trường Thông Ngôn năm 1908, chủ bút tạp chí Nam Phong, từ lâu chủ trương quân chủ lập hiến, là người của Pasquier.

Ngô Ðình Diệm, 32 tuổi, tuần vũ Phan Thiết, trai thứ ba của Ngô Ðình Khả, con đỡ đầu của Nguyễn Hữu Bài (bố vợ tổng đốc Ngô Ðình Khôi, anh cả của Diệm), tốt nghiệp Trường Pháp Chính (tức Trường Hậu Bổ) năm 1922, tức thời được bổ tri huyện.

Diệm cùng với Nguyễn Ðệ là người của Giáo Hội.

Vào thời đó, quan trường chia làm ba phái dè bỉu nhau. Phái chính thống tự hào vốn do khoa bảng xuất thân. Phái gốc thông ngôn, cai đội có công lao phục vụ nhà nước bảo hộ, do Pháp hay Giáo Hội tiến cử. Cuối cùng là phái đứng ở ngoài (?), dĩ nhiên cũng phải được Pháp hoặc Giáo Hội tín nhiệm, nhảy vô, kiểu Phạm Quỳnh, Nguyễn Ðệ, Nguyễn Tiến Lãng,...

Nguyễn Hữu Bài vốn chủ trương trở lại Hòa Ước 1884, Trung Bắc Kỳ thống nhất, kiểu Phạm Quỳnh, hy vọng dễ lũng đoạn hơn, nay cố vấn cho Diệm yêu cầu Pháp hủy bỏ hai chức khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ, nên bị Pasquier sa thải, cùng lúc lột hết chức tước, cả Bài, Diệm, và Ðệ, chỉ định Diệm cư trú tại Quảng Bình.

May sao ngày 15-1-1934, Pasquier tử nạn máy bay. 20-3-1935, Robin (René, 1934-36, nguyên thống sứ Bắc Kỳ, tân toàn quyền Ðông Dương, và khâm sứ Maurice Graffeuil (1934-41) thương hại, cho Diệm phục hồi chức tuần vũ nhưng không được làm việc. Diệm đành về Huế dạy ở trường Providence của anh trai thứ, linh mục Ngô Ðình Thục (sau thụ phong giám mục Vĩnh Long, năm 1938).

Phạm Quỳnh, đối thủ, thay Ngô Ðình Diệm, lập nội các.

[Bảo Ðại thành hôn với Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Hào/Jeannette Nguyễn Hữu Thị Lan, cháu ngoại Lê Phát Ðạt, tức Huyện Sĩ, vào năm 1934.

Ông vua cuối cùng này phá bỏ khá nhiều điều cấm kỵ của triều Nguyễn: lập hoàng hậu (Nam Phương), chịu phép bí tích hôn phối công giáo (bí mật); lập thái tử; phong vương cho người ngoài (Charles, chức Tề Nam Vương); đặt quốc hiệu là Việt Nam (1945), một tên mà ông tổ sáng lập triều đại không chấp nhận].

Năm 1939, nhân lễ kỷ niệm 150 năm cách mạng, đến lượt Bảo Ðại, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng đi Pháp vận động trở lại Hòa Ước 1884, thống nhất Trung Bắc Kỳ. Phần bị báo chí Bắc Kỳ phản đối, phần Ðệ Nhị Thế Chiến sắp nổ, phái đoàn ra về gấp.

Lý do dân Bắc Kỳ phản đối, không chịu thống nhất với Trung Kỳ là vì "thần dân của hoàng đế An Nam" bị xử theo luật của Nam Triều vô cùng khe khắt. Tỉ như vụ kháng thuế, Trần Quí Cáp không dự gì, bị Phạm Ngọc Quát (cha Phạm Ngọc Thạch, cộng sản, thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong) ghét, vu oan giá họa, mà cũng bị xử tội yêu thư yêu ngôn, chém ngang lưng. Lại như Ðồng Sĩ Bình, phán sự tòa sứ Qui Nhơn, làm một bài thơ dán trên bia Mai Xuân Thưởng, cũng bị xử tội yêu thư yêu ngôn, nhưng may, vì không thuộc giới văn thân, chỉ bị phạt 9 năm tù khổ sai, đày đi Ban Mê Thuột. Một người dân Nam Kỳ... phạm tội như thế bất quá chỉ bị mấy tháng tù treo!

*

Vào cuối cuộc đệ nhị thế chiến, nguy cơ Ðồng Minh đổ bộ Ðông Dương khiến Nhật phải lật Pháp, nắm quyền trực tiếp.

Chỉ trong vài tiếng đồng hồ đêm 9-3-1945, quyền bính đã nằm gọn trong tay Nhật, đồng thời nạn đói bùng nổ khắp nơi ở đồng bằng trung châu Bắc Việt. Có những làng chết gần hết. Tổng số người chết có thể lên đến gần hai triệu. Ngày 11, Bảo Ðại tuyên cáo độc lập. Ngày 19, nội các Phạm Quỳnh giải tán.

17-4, Trần Trọng Kim lập nội các.

20-7, phục hồi chủ quyền tại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng.

14-8, Nguyễn Văn Sâm được sắc chỉ bổ chức khâm sai Nam Bộ, do Nhật trao trả. Ngày 16, Nhật đầu hàng Ðồng Minh. Triều đình ban sắc chỉ thành lập Ủy Ban Giám Ðốc Chính Trị Miền Bắc, gồm Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Tường Long (Hoàng Ðạo), Ðặng Thai Mai, Trần Văn Lai, Phan Kế Toại. 18-8, Bảo Ðại gửi thư kêu gọi Truman, George VI, Tưởng Giới Thạch, De Gaulle (không gửi Stalin) tôn trọng nền độc lập của Việt Nam.

22-8, viên quan năm Nhật Bản tới gặp Bảo Ðại, cho biết, theo lịnh của chỉ huy quân đội Ðồng Minh, ông ta có nhiệm vụ bảo đảm an ninh hoàng cung và các người cư ngụ nơi đó, và mang quân tới trấn đóng. Nhưng Bảo Ðại... từ chối: "Tôi tuyệt đối cự tuyệt sự bảo vệ của ông. Tôi ra lệnh cho ông tháo gỡ các công sự. Tôi không muốn một quân đội ngoại quốc làm đổ máu nhân dân tôi (!!!)"

Có thể việc ông Bảo Ðại từ chối sự giúp đỡ của quân đội Nhật bảo vệ ngôi vua và tính mạng của chính ông cũng như của hoàng gia phát xuất từ lòng nhân ái như ông nói. Ông sợ phía Việt Minh bị quân đội Nhật tàn sát. Nói rộng ra, ông sợ sẽ có nội chiến. Quả thật suốt cuộc đời ông khó mà có thể bảo rằng ông đã làm hại đến ai. Tuy nhiên cũng vẫn không thể phủ nhận những động lực tiềm ẩn khác mà có lẽ chính ông cũng không ý thức được, là:

- Rất có thể ông cảm thấy cô đơn, bất lực vì mọi người đã bỏ ông còn lại một mình

- Rất có thể ông đã chán nản sau mười mấy năm đóng vai một vị vua bù nhìn

- Rất có thể ông nhát nhúa lười lĩnh, không muốn trực diện những chuyện nguy hiểm khó khăn, như rất nhiều người thường gán cho ông. Lịch sử đối với ông không xa lạ, hẳn gương tầy liếp của Louis XVI (1774-91), của Nicolas II (1894-1917) đã khiến ông chọn con đường an toàn hơn cả

- Rất có thể ông không tham quyền cố vị và có mặc cảm dòng họ mang tiếng cõng rắn cắn gà nhà, nay không muốn xác tín thêm điều luận tội của lịch sử

- Rất có thể ông mù tình hình, thiếu thông tin, không biết Việt Minh là gì, không luận giải nổi tương lai sẽ ra sao

- Rất có thể vì ông ngây thơ, không biết về nguy cơ cộng sản

- ...

Dù sao, điều quyết định đầy nhân ái của ông cũng chỉ cứu được ông và hoàng tộc khỏi niềm nguy hiểm có thể có, mà không thể thực hiện được điều nhân nghĩa ông chủ trương. Ðất nước và dân tộc, do sự vụng tính của ông, đã chìm đắm vào nửa thế kỷ máu và nước mắt. (Ba mươi năm sau, một kẻ khác cũng cần có một quyết định chính trị, lại cũng mang đạo đức ra để bào chữa. Ðó là Dương Văn Minh. Và đất nước tiếp tục ngụp lặn trong tang thương chưa biết sẽ đến tận bao giờ)

Ngày 30-8-45, Bảo Ðại làm lễ thoái vị.

2-9-45, Bảo Ðại ra... Hà Nội làm cố vấn chính phủ.

8-9-45, chính phủ lâm thời quyết định tổ chức Tuần Lễ Vàng.

9-9-45, quân đội Trung Hoa tới Hà Nội để giải giáp quân Nhật.

15-10-45, Hồ Chí Minh tiếp kiến Sainteny.

11-11-45, Ðảng Cộng Sản Ðông Dương tuyên bố tự giải tán.

6-1-46, bầu cử quốc hội, tất cả 444 ghế, 70 ghế dành cho các đảng phái quốc gia (Việt Cách, Việt Quốc) và 18 ghế dành cho Nam Bộ... không bầu.

16-2-46, Hồ Chí Minh tiếp Sainteny, nhận nguyên tắc điều đình: Việt Nam có thể đứng trong Liên Hiệp Pháp.

19-2-46, Phe quốc gia biểu tình đòi Bảo Ðại trở lại cầm quyền.

Sainteny gặp Hồ Chí Minh nêu vấn đề hợp tác Việt Pháp và việc quân Pháp đổ bộ lên miền bắc. Gặp chuyện khó xử: Sáng, Hồ gặp Bảo Ðại, nói muốn trao quyền lại cho Bảo Ðại còn mình làm... cố vấn tối cao. Trưa, Hồ lại tới cam đoan Bảo Ðại được tự do chọn người để lập chính phủ. Chiều, do đàn em cảnh giác, Hồ lại đến nói... tiếp tục hi sinh đảm đương trách nhiệm.

2-3-46, thành lập chính phủ... liên hiệp.

6-3-46, ký hiệp định sơ bộ với Pháp.

16-3-46, Bảo Ðại theo phái đoàn thiện chí qua Tàu và được lịnh... ở lại; tới Hồng Kông tạm trú.

18-3-46, quân đội Pháp đổ bộ lên miền Bắc.

Các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam cùng các đồng chí lục tục lánh sang Tàu.

13-7-46, theo công an, nhóm phản động bắt cóc đối thủ về giết và chôn tại hai hầm giam ở nhà số 7 đường Bonifacy và 46 đường Halais Hà nội.

14-9-46, đương đêm, Hồ Chí Minh tới tư thất của bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet ký thỏa ước tạm thời.

2-11-46, Hồ Chí Minh lập chính phủ mới, không còn tính cách liên hiệp, thiếu Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ,... Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ bộ nội vụ. Bảo Ðại vẫn là cố vấn, tuy hiện ở Trung Hoa.

9-11-46, quốc hội chấp thuận hiến pháp với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống. Tổng số nghị sĩ là 444, nhưng chỉ có 242 vị tới họp.

19-12-46, trong đêm, ở khắp các nơi có quân đội Pháp, cuộc giao tranh cộng sản-thực dân bắt đầu.

4-8-47, Bollaert, cao ủy Ðông Dương, nhờ Paul Mus tiếp xúc Bảo Ðại tại Hồng Kong.

16-8-47, Phạm Công Tắc ủng hộ Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Quốc của Nguyễn Văn Sâm chủ trương đưa Bảo Ðại về nước thành lập chế độ quân chủ lập hiến.

23-8-47, tổng lãnh sự Mỹ Charles Reed ở Sài Gòn báo cáo Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Quốc ủy Lê Văn Hoạch tiếp xúc Bảo Ðại yêu cầu cầm đầu phong trào quốc gia thống nhất đất nước.

9-9-47, Bảo Ðại tiếp kiến 24 đại diện ba miền và Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Quốc, tuyên bố sẽ đứng ra hoà giải các phe phái sau khi thương lượng với Pháp. Ở Sài Gòn có biểu tình mời Bảo Ðại về nước.

18-9-47, Bảo Ðại ra tuyên cáo chấp nhận sự ủy thác của quốc dân và sẵn sàng thương thuyết với Pháp.

6/7-12-47, Bảo Ðại gặp Bollaert ở Hạ Long, sau đó qua Geneva.

29-12-47, William C. Bullit kêu gọi nên sử dụng Bảo Ðại để lôi kéo những phần tử quốc gia khỏi hàng ngũ Việt Minh.

5-6-48, Bảo Ðại tới Hạ Long chứng kiến Bollaert và Nguyễn Văn Xuân cùng các đại diện chính quyền ba miền - Nghiêm Xuân Thiện, Ðặng Hữu Chí (bắc); Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Ðinh Xuân Quảng (trung); và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch (nam)- gặp nhau trên chiến hạm Duguay Trouin, ký hiệp ước và ra tuyên ngôn ba điểm. Ðiều 1 của tuyên ngôn xác định: Nước Pháp long trọng nhìn nhận sự độc lập của nước Việt Nam. Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi nước Việt Nam. Về phần mình, nước Việt Nam tuyên bố chịu gia nhập Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước Pháp.

8-3-49, Bảo Ðại ký thỏa ước élysée với tổng thống Pháp Vincent Auriol.

25-4-49, Bảo Ðại về Sài Gòn, nhưng ngay sau đó lên Ðà Lạt.

1-7-49, thành lập chính phủ. Bảo Ðại làm quốc trưởng kiêm thủ tướng. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng là Nguyễn Văn Xuân.

21-1-50, Nguyễn Phan Long lập chính phủ.

6-5-50, Trần Văn Hữu thay Long.

2-6-52, Nguyễn Văn Tâm thay Hữu làm thủ tướng.

11-1-54, Bửu Lộc làm thủ tướng.

16-6-54, Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng toàn quyền hành động.

25-4-55, thủ tướng Diệm chấm dứt nhiệm vụ tổng giám đốc cảnh sát công an Lai Văn Sang (Bình Xuyên), giải tán công an xung phong.

28-4-55, Công an xung phong Bình Xuyên bắn phá trụ sở mới của Nha Cảnh Sát Công An và Bộ Tổng Tham mưu đường Trần Hưng Ðạo, xả súng cối vào Dinh Ðộc Lập. Bảo Ðại phong Nguyễn Văn Vỹ làm tổng tư lệnh Quân Ðội Việt Nam, được toàn quyền sử dụng mọi phương tiện để giải quyết cuộc tranh chấp giữa Diệm và các giáo phái.

29-4-55, thành lập Hội Ðồng Nhân Dân Cách Mạng.

30-4-55, Hội Ðồng Nhân Dân Cách Mạng ra tuyên cáo: Truất phế Bảo Ðại, giải tán chính phủ Ngô Ðình Diệm và ủy Ngô Ðình Diệm lập chính phủ khác, dẹp phiến loạn, thu hồi chủ quyền.

1-5-55, Diệm yêu cầu Mỹ yểm trợ để lật đổ Bảo Ðại.

2-5-55, quân đội phản công Bình Xuyên ở ba mặt: cầu chữ Y, cầu Nhị Thiên Ðường, và Xóm Củi Phú Lâm.

7-7-55, kỷ niệm một năm chấp chánh của thủ tướng Ngô Ðình Diệm. Bộ Thông Tin làm lễ... thượng ảnh.

26-9-55, Diệm thông báo với đại sứ Rheinart sẽ thực hiện hai giai đoạn để loại bỏ Bảo Ðại: Trưng cầu dân ý ngày

23-10-55 về người cầm quyền tại Nam Việt Nam và trưng cầu dân ý về hiến pháp ngày 27-11-55.

6-10-55, hội đồng chính phủ quyết định tổ chức trưng cầu dân ý về việc truất phế Bảo Ðại. Tổng trưởng nội vụ nhân danh chính phủ tuyên bố về vấn đề này và lo liệu tổ chức.

23-10-55 trưng câu dân ý. Số người đi bỏ phiếu, theo bộ nội vụ: 5.838.907 phiếu, gồm 5.721.735 truất phế Bảo Ðại và suy tôn Ngô Ðình Diệm, 131.395 không có ý kiến, 63.017 không truất phế, 44.135 không hợp lệ.

(còn tiếp)

1. Nghe đâu, thời đó, con trâu là cả một gia tài nông dân, giá chỉ có 5$00

%% Trở lại mục lục