Cũng đọc "Trả Ta Sông Núi"

Nguyễn Ðình Hồng

Tôi là thường dân Việt. Tôi chẳng có bằng cấp, địa vị, tiền bạc. Cả đời, tôi bận việc cơm áo cho gia đình, giật gấu vá vai. Nên chẳng bao giờ nhìn được xa hơn cái đầu mũi. Vả lại có muốn cũng không xong. Tất cả các nhà nước Việt Nam đều không cho phép có đối lập. Không được có đoàn thể, không được có tổ chức đối lập, thì người dân đơn độc biết dựa vào đâu để mà bày tỏ nguyện vọng của mình. Hở ra là dùi cui, nhà tù hay viên đạn thì khó nói chuyện hùng hay hèn được. Thế cho nên tôi không quen thuộc gì các ông to bà lớn đã đành. Mà cũng chẳng có điều kiện hay nhu cầu để nghe biết gì nhiều về họ.

Sang đây thì hơi khác. Không còn lo đói rách. Không còn chuyện dùi cui, nhà tù, súng đạn. Lại có cả thì giờ nhàn tản. Nhiều khi tôi có cái thú đi tìm sách báo. Khá nhiều lần, tôi thấy cuốn hồi ký của ông Phạm Văn Liễu. Nhưng thú thực tôi rửng rưng. Vì cho rằng lại một ông nhà binh khoe khoang thành tích dởm. Nhất là cái tựa "Trả Ta Sông Núi" đầy vẻ cải lương. Tôi cười thầm: Ðòi suông, đứa nào nó trả. Phải làm sao tống cổ nó đi, mà cướp lại, mà giành lại.

Thế mà rồi, tình cờ đọc một bài báo của một ông viết về tập hồi ký này khiến tôi rất ngạc nhiên, mà tìm đọc nó. Tôi đã đọc kỹ toàn bộ, gồm ba tập, kèm theo bài "Vỗ Ngực" (tản mạn về cuốn Trả Ta Sông Núi của cựu đại tá Phạm Văn Liễu) của một ông nhà binh, cũng cấp tá, ông Trần Khắc Kính, đăng trên tờ Sài Gòn Nhỏ và bài "Một vài bổ chính về cuốn Trả Ta Sông Núi" của ông Lê Văn Thái, một người bạn của ông Liễu, đăng trong NgD số vừa qua.

Ðiều gây tò mò cho tôi là do giọng viết của ông Trần Khắc Kính. Một giọng tủn mủn, hằn học, thiếu tình người. Ðúng ra ông Kính chỉ viết về Tập I, tức là phần ông Liễu tự nói về cuộc đời từ nhỏ cho đến khi tham gia cuộc đảo chính ông Ngô Ðình Diệm.

Tủn mủn, vì khi phê bình một cuốn sách, một bài viết, thay vì chỉ nói đến những cái đại thể. Ðàng này ông Kính chê ông Liễu "nhận định sai lạc và hời hợt, ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn sách Trả Ta Sông Núi. Ông Liễu đã viết tỉnh Nam có một hải cảng sầm uất nhất, nơi hoa thương và khách buôn ngoại quốc lui tới đã lâu đời. Ðâu có! Bến Ðò Quan là một cảng đường sông, đâu phải là hải cảng?... Ðọc thêm: Thổ sản nổi danh nhất của Nam Ðịnh là quít và rươi... Tiết trời tháng 9 mới có sương, trông sang hai bên bãi sông, tưởng chừng lạc và một nước toàn quít vàng. Gặp lúc mưa nhỏ, khắp nơi trong thành chỉ thấy trên là trời, dưới là rươi. Miệt Xuân Trường nổi tiếng về cam chứ không phải là quít... Cam thì trồng trong vườn nhà, làm sao mà có bãi sông toàn quít (cam) vàng được?... Còn rươi, loài ấu trùng này chỉ có thể sinh sản từ những gốc rạ ở cánh đồng chua, nghĩa là gần biển mà thôi, làm sao khắp nơi trong thành chỉ thấy trên trời, dưới là rươi được?" (Sài Gòn Nhỏ trang 61, 62)

Ông Kính cố tình chứng minh ông Liễu viết sai lạc bằng việc nêu những chuyện lặt vặt, lầm cam mật nơi quê của hai ông (ông Liễu và ông Kính) thành quít. Quất, quít, cam mật (cam đường), cam giấy là cùng một loại, khá giống nhau, chỉ khác về cỡ khổ, vỏ dầy mỏng, vị ngọt nhạt. Ông Liễu bỏ làng đi từ hồi 5 tuổi, thì sự nhầm cam mật thành quít có gì là quan trọng. Nhưng tôi nghĩ là ông Kính thiếu thành thực khi trách ông Liễu. Ông Liễu muốn khoe về quê hương mình nên trích hai câu trong bài Thiên Trường ký sự: Lưỡng ngạn tân sương kim quất quốc, Mãn thanh tế vũ thổ hà thiên" và mở ngoặc tạm dịch: Tiết trời [tháng 9] mới có sương, trông sang hai bên bãi sông, tưởng chừng lạc vào một nước toàn quít vàng. Gặp lúc mưa nhỏ, khắp nơi trong thành chỉ thấy trên là trời, dưới là rươi (TTSN tập III, trang 19). Trích dẫn lời người xưa đâu có phải là chuyện nói sai, dù là nay cảnh, người, mọi thứ có thể đổi thay. Và khi ông Liễu viết về cái hải cảng sầm uất cũng là ông nói chuyện... đã lâu đời của tỉnh Nam Ðịnh. Ðó là cái cửa bể Ba Lạt (nay đã bị phù xa bồi lấp) mà xưa kia chính các nhà truyền giáo cũng đã vào, để tới Ninh Cường, Trà Lũ truyền đạo. Chứ đâu có phải cái bến Ðò Quan ở trên con sông đào, ngay thành phố đâu!

Ông Liễu viết bằng Certificat de fin d'études primaires là Sơ Học Yếu Lược (tiểu học) dĩ nhiên là sai. Bằng Sơ Học Yếu Lược thi vào cuối lớp ba cũng gọi là bằng Tuyển Sinh. Còn bằng đó thi cuối lớp nhất (năm/sáu), thì là bằng, CEPFI (Certificat dỖétudes Primaires Franco-Indochinoises) còn gọi là bằng Cơ Thuỷ hay Khóa Sinh, ông Kính gọi là bằng Sơ Học Pháp Việt cũng sai luôn. (Sài Gòn Nhỏ trang 61).

Ông Kính viết: "Phụ thân ông (Liễu) xuất thân chắc là caporal Chef ở Intendance (cai sếp quân lương) của một đơn vị lính khố đỏ nào trên đây, tức là ông thuộc dòng dõi lính khố đỏ. Thế mà ông dám mở miệng ra thóa mạ QÐQGVN 99 phần trăm, nếu không phải 100% cấp chỉ huy đều đã đi lính từ thời khố đỏ, khố xanh... Ngay đến những sĩ quan trẻ tốt nghiệp các trường võ bị... sống buông thả như những tên lính tẩy, cuộc đời chẳng gì khác hơn là gái và rượu... Vậy hóa ra ông tự thóa mạ, cũng như thóa mạ cả dòng dõi nhà ông à? Sao lại quá khôn dồn ra dại vậy?" (Sài Gòn Nhỏ trang 62)

Rõ ràng ông Kính cố tình cắt xén để xỉ vả oan ức ông Liễu. Ta hãy trích cho đủ câu đó thì rõ. Ông Liễu viết:

Nhìn quanh những người đồng ngũ cũng không thể không chua xót nhận hiểu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam còn đầy rẫy tàn tích của phong kiến, thực dân. 99 phần trăm, nếu không phải 100% đều là lính đi từ thời khố đỏ, khố xanh; kinh nghiệm chiến đấu có thể có, nhưng lập trường và quan điểm chính trị là những con số không rực rỡ. Ngay đến những sĩ quan trẻ, tốt nghiệp các trường võ bị mới thành lập, cũng không thiếu phần tử chẳng có một ý niệm nào về tư cách và phẩm hạnh của một sĩ quan quốc gia. Họ sống buông thả như những tên lính tẩy; cuộc đời chẳng có gì khác hơn là gái, rượu và đàn bà giữa những khoảng trống của hai lần hành quân. Liệu tình trạng có thể cải thiện để đạt được chiến thắng cuối cùng? Liệu chính thể quốc gia, lúc đã rút vào miền Nam, sẽ có một lãnh tụ khả dĩ hướng dẫn con thuyền quốc gia qua cơn bão táp hồng thủy hiện nay? (TTSN tập III, trang 297-8)

Vậy có gì là tự thóa mạ cũng như thóa mạ cả dòng họ không?

Ông Kính nhạo báng ông Liễu là cách miệng, phường chèo, láo khoét, vì, bị cộng sản săn đuổi, trên đường bôn tẩu phải "chăn trâu, kiếm củi, quét nhà, rửa chén, nấu bếp, phụ giúp lò bánh mì, chạy hàng sách, giặt ủi, hớt tóc dạo, có khi phải đi "cốc" nữa! Thì ra các ông đi làm cách mạng là như thế vậy đó" ư. (Sài Gòn Nhỏ trang 62)

Rồi ông Kính tự khoe: "Chúng tôi, trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đã tham gia trực tiếp tại thị xã Nam Ðịnh, ngay từ đêm 19/12/46, cho mãi tới khi mặt trận vỡ vì trận phản công phối hợp thủy lục không quân của Pháp vào dạo giáp tết Ðinh Hợi. Lúc đó các ông sắp vượt biên giới Lào Cai, Hà Giang để sang Tàu rồi, đâu mà có cơ hội quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp được." (Sài Gòn Nhỏ trang 62)

Chúng ta phải công bằng. Người chí lớn phải ẩn nhẫn là chuyện thường tình. Ðào Duy Từ chăn trâu, Bá Lý Hề chăn trâu, Câu Tiễn nếm phẩn, Hàn Tín lòn trôn,... đâu có gì mà nhạo báng. Những thanh niên nam nữ tuổi ông Liễu ông Kính mà tham gia cách mạng chống Cộng chống Pháp thời đó là vô cùng đáng kính trọng. Họ đã bỏ mọi sự để lên rừng lên núi học tập, chiến đấu. Họ đã đuổi cộng sản, lập tỉnh chính quyền quốc gia, đánh Pháp từ Tàu trở về, từ ngoài khơi vào do ký kết với cộng sản. Còn kháng chiến theo lịnh cộng sản ngày 19-12-46 thực ra chỉ có các tự vệ thành Hà Nội là chiến đấu anh dũng. Các nơi khác thì hầu như là trò chơi ú tim. Tỉ dụ ở Nam Ðịnh, Pháp nằm khàn trong nhà băng kiên cố, tự vệ thành (ít nhất là lũ chúng tôi) đêm đêm chui xuống hầm tránh bom chưa lấp gần đó bắn lẹt đẹt mấy phát mousqueton, vác loa nói lảm nhảm trêu tức giặc, gần sáng rút lui an toàn. Ðến khi quân Pháp đến tăng cường thì rút. Có gì mà khoe khoang.

Bây giờ đến chuyện thiếu tình người. Xin quí vị tạm đọc điều ông Kính viết: "Nghe nói bữa ra mắt cuốn sách trong ngày 14 tháng 7, ông Liễu phải ngồi xe lăn. Tình trạng sức khỏe như vậy là đáng lo ngại. Nếu còn ở Việt Nam, chắc là đã đi theo Bác từ lâu rồi. Nhưng tại miền tạm dung này, với nền y khoa tối tân, vẫn còn có thể sống ngắc ngoải dài dài. Lúc gần đất xa trời thường hay nghĩ quẩn, khi muốn giối giăng một điều gì.

Giống như trường hợp của ông Ðỗ Mậu - trước khi chết - cố ngồi xe lăn lên Ðài Truyền Hình Hà Nội, trả lời phỏng vấn để ca tụng chế độ xã nghĩa. Ông Liễu vỗ ngực tự xưng là nhà cách mạng, nhưng lại chối bỏ tất cả những thành quả của người quốc gia và đề cao, ve vãn cộng sản, với tình trạng sức khỏe suy sụp như vậy, ông không sợ trụy tim hay nhồi máu cơ tim hay sao?" (Sài Gòn Nhỏ trang 64)

Ðề cao, ve vãn cộng sản là vì ông Liễu viết: Ða số những người bị (đệ nhất cộng hòa) bắt giữ với tội danh cộng sản chỉ là những nông dân mà tội lỗi chỉ lớn nhất là có tài sản hoặc vợ hay con gái đẹp. (TTSN tập III, trang 358)

Kết luận, ông Kính viết: Mỗi sáng lái xe đi ăn sáng, tôi ghé qua các chợ Việt Nam, tôi nhìn thấy trước cửa chợ hàng đống báo chí, tập san, sách đủ loại, để hàng chồng, biếu không. Cuốn Trả Ta Sông Núi của ông Phạm Văn Liễu cũng đáng được xếp cạnh những chồng sách này.

Sở dĩ tôi phải mất công đề cập tới, là vì lý do đã được trình bày cặn kẽ trong tiểu mục 4 (Cây Muốn Lặng Mà Gió Chẳng Ðừng) trên đây. (Sài Gòn Nhỏ trang 64)

Lý do đó là: "Trong trang 411 (đúng ra là trang 431), ông Liễu viết: Cái lối trừng phạt cả vợ con và thân nhân người chống chế độ này là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về tinh thần mọi rợ kiểu trung cổ của anh em ông Diệm cùng thuộc hạ như bộ trưởng Lâm Lễ Trinh và nhóm mật vụ đặc trách về cuộc đảo chính. (Sài Gòn Nhỏ, trang 62)

Ðúng lý ra, vụ điều tra (việc đảo chính 11-11-60) phải trao cho đại tá Ðỗ Mậu, giám đốc Nha An Ninh Quân Ðội. Nhưng ngày đó, ông Mậu bị tổng thống Diệm nghi ngờ là thiếu khả năng... Do đó trung tá Lê Quang Tung, giám đốc sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống được chỉ định lãnh trách vụ này... Ông Tung không muốn rời - tuy là tạm thời - chức vụ giám đốc Sở Liên Lạc, mất đi sự tiếp xúc thường xuyên với các giới chức cao cấp của CIA (như Edward Barbier , Russ Miller , Gilbert Layton ,...). Và thế là tôi - thiếu tá phó giám đốc Sở Liên Lạc - được chỉ định thay thế, sang ngồi bên trụ sở số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm của Nha An Ninh Quân Ðội, để điều khiển cuộc điều tra này... Ngày 15-11-69, tôi mới sang bên ANQÐ , thì tất cả đã bị bắt xong xuôi cả rồi... (Sài Gòn Nhỏ trang 63)

Chuyện ông Liễu nói về việc người dân bị bắt oan, về việc lạm quyền của mật vụ, nếu nói chung, thì cũng chẳng có gì quá đáng. Nhưng rất có thể khi nói "nhóm mật vụ đặc trách về cuộc đảo chính", nghĩa là ông Kính và các nhân viên thuộc quyền ông, thì ông Liễu sai. Thế nhưng cái sự hậm hực của ông Kính có vẻ quá cái mức bình thường. Hẳn có những lý do hệ trọng nào đàng sau. Phải chăng ông Kính là thành phần Cần Lao? Mà dù sao, theo sự nhận định của những thường dân chẳng vị bên nào, thì tôi chắc rằng mọi người hẳn đều đồng ý rằng đó là một giọng điệu không nên có ở bất cứ một người nào đã leo lên đến cấp tá trong quân đội quốc gia.

Ông Lê Văn Thái viết về Tập III (nói về Phong Trào Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh). Nhưng ông Thái không nói về cuốn sách, mà chỉ bổ chính những điều ông cho là ông Liễu thiếu sót.

Ông Thái cho là ông Liễu can đảm, nói 8, 90% sự thật. Người cùng hoạt động với nhau, rồi sau phân hóa mà nói vậy, thì hẳn nó là vậy. Có được sự thật đến 8, 90% là điều quí lắm rồi. Thế cho nên tôi không đồng ý điều ông Thái nói: Thà ông (Liễu) đừng viết cuốn III này (để vẫn thấy hình ảnh hào hùng của một Phạm Văn Liễu đầy sức sống, lên đường trả nợ núi sông, một Phạm Văn Liễu ngạo nghễ, linh hồn của các cuộc đảo chính 1960, 1964,...). Với ông Thái có thể như vậy, nhưng đối với dân thường chúng tôi, thì phần nhật ký mang 8, 90% sự thật về sự việc xảy ra tại hải ngoại này là một cái gì quí giá, giúp chúng tôi ôn cố trí tân, xét người xét việc để khỏi sa vào những lỗi lầm nữa.

Ðàng khác, tôi lại hoàn toàn đồng ý với ông Thái ở điểm cần "giới thiệu rộng rãi để càng nhiều người đọc càng hay". Vì riêng tôi, tôi thấy tất cả những điều ông Liễu viết trong ba tập đều trung thực, đúng theo sự suy nghĩ của ông và sự thấy biết của tôi.

Do đó, tôi thấy chỉ còn cần đề cập tới những điều nho nhỏ, không hề là khen chê, chỉ với mong ước giúp thêm người đọc được chút nào hay chút đó, hoặc nếu sách có tái bản, thì được điều chỉnh cho thêm phần hoàn mỹ.

Vậy, tôi xin thứ tự kê khai những điều sau đây:

Về Tập I

- Mảnh đất chữ S, kéo dài từ Ðồng Văn tới Cà Mau (trang 16).

Tại sao lại từ Ðồng Văn? Ải Nam Quan là ải do Tàu dựng lên để kiểm soát phía Nam của họ, có nghĩa là đất họ chấm dứt ở đó. Bước qua ải là đất của Việt Nam, thì câu nước ta khởi từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau vẫn đúng chứ. Ðồng Văn cách biên giới có đến 5 cây số. Thế thì 5 cây số đó thuộc về ai?

- Nam Ðịnh đã biến thành một chiến trường đẫm máu, chốn nồi da xáo thịt của người Việt, khi Pháp mang quân xâm chiếm Ðại Nam dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và giải phóng giáo dân; thường được biết như phong trào Tả Ðạo hay Cần Vương của giới văn thân (trang 20-1).

Nếu muốn nói về hai "phong trào" thù nghịch thì phải viết "như phong trào Tả Ðạo và Văn Thân". Còn nếu muốn nói cả hai phong trào đều là của văn thân thì phải viết "phong trào Bình Tây Sát Tả và Văn Thân của nho sĩ". Làm gì có chuyện vừa là... Tả Ðạo vừa là (hay) Cần Vương. Phong trào Cần Vương là sau chiếu cần vương của vua Hàm Nghi mới có lận.

- Họa da vàng (hoàng họa, périle jaune) là tiếng người Pháp dùng để ám chỉ thế lực của người Nhật tại á Châu (trang 22).

Péril không có "e" và là nói chung người á Châu, mà vai chính là người Tàu, chứ không phải riêng chỉ người Nhật và "khởi đầu bằng việc Nhật xua quân chiếm Mãn châu" (trang 22).

- Hiệp sĩ Rolland cùng người bạn là Olivier, thời trung cổ, đã hăng say cầm quân Pháp chống lại giặc Hung Nô (trang 36).

Roland một "l" thôi, và đấy là huyền sử trong cuộc Charlemagne xâm lăng Spain thất bại phải rút lui. Roland và một số ở lại chặn hậu. Không liên hệ gì đến "giặc Hung Nô" cả. Hung Nô là sắc dân ở phía bắc Trung Hoa, không dính dáng gì đến Âu Châu.

- Bơi lội thì khó ai tranh được với Sáu, Củn, Mủn, những con gà của tri phủ Cung Ðình Vận (trang 40).

Khi đó, ông Vận là tuần phủ Quảng Yên.

- Nào là các cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Văn An, Lê Toàn, Dương Bá Trạc đã được Nhật mang vào Nam yểm trợ hoàng thân Cường Ðể lập chính phủ, một khi Nhật ra tay hất cẳng Pháp (trang 45).

Ðó là các ông Nguyễn Xuân Chữ, Ngô Ðình Diệm, Lê Toàn, Vũ Văn An và Vũ Ðình Di. Hai cụ Dương Bá Trạc và Trần Trọng Kim ở Chiêu Nam với ông Trần Văn Ân.

- Ai cũng biết vua Bảo Ðại ngay đến chữ quốc ngữ mới còn không thông, nói chi những ý tứ trong sách Mạnh Tử. Bởi thế người cho rằng thượng thư Phạm Quỳnh là tác giả của khẩu hiệu Dân Vi Quí, người suy đoán là thày dạy chữ nho của Bảo Ðại. Lại cũng có người khẳng quyết rằng chính cố vấn tối cao Yokohama đã mớm ý cho vua. Ông Yokohama, một nhân vật tình báo cao cấp Nhật, đã có mặt tại Huế trước tối ngày 9-3 để theo dõi hành tung vua Bảo Ðại và kịp thời ngăn chặn vua chạy thoát kinh thành ra hướng Quảng Trị. (trang 57)

Bảo Ðại theo nho học khá lâu chứ sao lại "nói chi đến những ý tứ trong sách Mạnh Tử". Ngay cả hồi học bên Pháp hàng chục năm (1922-32), ông Bảo Ðại vẫn có thày nho học đi theo kèm dạy.

Ông Bảo Ðại và bà Nam Phương ra Quảng Trị săn vài hôm trước. Khuya 9-3 về, bị Nhật giữ lại ngoài hoàng thành, qua sự phiên dịch của viên thông ngôn Trần Nhật Quang (sau này bị Việt Cộng giam tại khám Chí Hòa). Sáng mồng 10, sau khi họp nội các, Bảo Ðại còn chia phần thịt săn cho mọi người.

- Riêng cụ Dương Bá Trạc, từng trốn khỏi Hà Nội với cụ Kim năm 1944, đã qua đời vì ung thư phổi trên đất Thái (trang 58).

Cụ Dương qua đời tại Chiêu Nam (Singapore).

- Nếu vậy, sợ rằng câu sấm Trạng Trình "Mười người chết bảy còn ba; Ba người chết hai còn một" sẽ có dịp linh ứng (trang 69-70).

Câu sấm đó là: Mười phần chết bảy còn ba; Chết hai còn một mới ra thái bình.

- Du kích địa phương đêm đêm gậy gộc, giáo mác, tăng cường bằng vài khẩu súng lục hay ngựa trời, kéo nhau đi bắt Việt Gian và gián điệp cho Tây (trang 88-9).

Súng ngựa trời là... sáng chế của nhóm bà Nguyễn Thị Ðịnh ở Miền Nam. Hồi 1945, ở Bắc chưa ai nghe nói đến.

- "Ðoàn quân Tàu Ô đi, sao mà gớm thế; Hết thằng phù lại đến thằng què lê"... Các đoàn quân Trung Hoa tiến vào Hà Nội lôi thôi, lếch thếch, quân phục xốc xếch, luộm thuộm, dơ dáy, tên thì ghẻ lở loe loét (ta thường gọi là ghẻ Tàu), mụn nhọt máu me chảy ra thấm cả vào xà cạp, giầy dép, quần áo, kẻ thì phù thủng, tên thì què lê (trang 94).

Hai câu đó là như sau: "Ðoàn quân Tàu Ô sang sao mà ốm thế; Vác chân phù lê trên con đường Việt Nam". Có thế mới đúng với âm vận bài Tiến Quân Ca. Và lở loe loét ta gọi là sâu quảng (Quảng Ðông, Quảng Tây?), chứ ghẻ tàu, ghẻ ruồi, ghẻ mủ thì chưa phải là loe loét.

- Thời gian này, Việt Minh đã hợp tác với Pháp. Họ rảnh tay tập trung lực lượng tấn công và đánh chiếm các tỉnh dưới sự kiểm soát của Quốc Dân Ðảng. Lần lượt các tỉnh như Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Ðịnh, rồi Bắc Giang, Quảng Yên, Hải Dương, Móng Cáy, Ðông Triều đều rơi vào tay Việt Ninh (trang 136)

Khó có thể nói là những tỉnh miền suôi này ở dưới sự kiểm soát của Quốc Dân Ðảng. Phần lớn Quốc Dân Ðảng chỉ chiếm được một khu vực nhỏ nào đó hoặc có một trụ sở mà thôi. Cộng sản vẫn kiểm soát các tỉnh và thành phố này.

- Năm 1930, khi ông Nguyễn Thái Học ra lệnh khởi nghĩa, đạo quân có nhiệm vụ tấn chiếm Ðồn Cao bị thất bại, đưa đến sự tan rã của VNQDÐ, và rồi ông Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí anh dũng lên máy chém của thực dân (trang 136).

VNQDÐ khởi nghĩa thất bại ở nhiều nơi, không phải chỉ vì riêng thất bại ở Ðồn Cao mà tan rã. Ông Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị chém một lượt ở Yên Bái. Nhưng tất cả 35 vị bị xử tử lận.

- Trại Cẩm Thủy nằm về phía tây sông Mã, sát với Trường Sơn. Ðây là khu vực có nhiều trại tù, như trại Lý Bá Sơ hay Ðầm Ðùn, nổi danh địa ngục trần gian (trang 253)

Trại Lý Bá Sơ khác trại Ðầm Ðùn. Trại Ðầm Ðùn ở Hòa Bình (Liên Khu III). Trại Lý Bá Sơ ở Thanh Hóa (Liên Khu IV).

- Sau này chúng tôi biết căn nhà đó là của cụ Phan Ðình Hoè, bác ruột của ba anh em Phan Ðình Khải, Phan Ðình Dinh và Phan Ðình Ðống, tức Lê Ðức Thọ, Ðinh Ðức Thiện, và Mai Chí Thọ (trang 264).

Cụ Phan Ðình Hoè là con nuôi cụ cố Bún, nên cũng chỉ là bác nuôi của ba anh em đó mà thôi.

- Ðây là một tờ "motion" (tuyên cáo), nội dung là triệt để ủng hộ trung tướng Nguyễn Văn Hinh, đả đảo và bất tín nhiệm thủ tướng Ngô Ðình Diệm (trang 308).

Motion là đề nghị, kiến nghị thôi, không phải là tuyên cáo. Tuyên cáo là declaration.

- Ông Tuyến cũng kiểm soát tờ Cách Mạng Quốc Gia và có ảnh hưởng với tờ Tự Do của nhóm Trần Việt Tuyền và Như Phong Lê Văn Tiến (trang 368).

Ông Tuyền họ Phạm, không phải họ Trần.

- Qua ngày 13-11-1960, tình hình càng tuyệt vọng hơn (trang 408).

Chiều 12 là các ông làm đảo chính đã thất bại, lên phi cơ bỏ chạy mất tiêu rồi.

(còn tiếp)


%% Trở lại mục lục